Doanh nghiệp Việt Nam hiện phân loại các khoản đầu tư tài chính theo mục đích nắm giữ được quy định tại chế độ kế toán: chứng khoán kinh doanh, khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, và khoản đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, với đo lường chủ yếu theo giá gốc trừ dự phòng. IFRS 9 thay toàn bộ cơ sở phân loại này bằng hai bộ tiêu chí áp dụng đồng thời – mô hình kinh doanh mà đơn vị quản lý tài sản tài chính, và đặc điểm dòng tiền theo hợp đồng của tài sản – từ đó xác định một trong ba nhóm đo lường. Sự khác biệt về cơ sở phân loại kéo theo việc phân loại lại gần như toàn bộ danh mục tài sản tài chính khi chuyển đổi, đặc biệt với danh mục trái phiếu, các khoản cho vay có điều khoản đặc thù, và cổ phiếu chưa niêm yết.
CÁC KẾT LUẬN QUAN TRỌNG
- IFRS 9 phân loại tài sản tài chính vào ba nhóm đo lường: giá trị phân bổ (amortized cost – AC), giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác (fair value through other comprehensive income – FVOCI), và giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ (fair value through profit or loss – FVTPL).
- Việc phân loại một công cụ nợ dựa trên hai điều kiện áp dụng đồng thời: (i) mô hình kinh doanh (business model) mà đơn vị nắm giữ tài sản, và (ii) kết quả kiểm định đặc điểm dòng tiền hợp đồng – dòng tiền chỉ là khoản thanh toán gốc và lãi trên số dư gốc (solely payments of principal and interest – kiểm định SPPI).
- Chỉ khi tài sản vượt qua kiểm định SPPI, mô hình kinh doanh mới quyết định nhóm đo lường: giữ để thu dòng tiền hợp đồng đến giá trị phân bổ; vừa thu dòng tiền hợp đồng vừa bán đến giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác; còn lại đến giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ.
- Công cụ vốn (đầu tư cổ phiếu, vốn góp vào đơn vị khác) không áp dụng kiểm định SPPI và mặc định đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ; đơn vị có lựa chọn không hủy ngang, cho từng công cụ, chỉ định đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác.
- Không còn cơ sở đo lường theo giá gốc cho khoản đầu tư cổ phiếu chưa niêm yết; mọi công cụ vốn thuộc phạm vi IFRS 9 đều phải đo lường theo giá trị hợp lý.
- Đơn vị có thể chỉ định một tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ ngay tại thời điểm ghi nhận ban đầu, nếu việc chỉ định loại bỏ hoặc giảm đáng kể sự thiếu nhất quán trong đo lường (lựa chọn giá trị hợp lý – fair value option).
Cơ sở phân loại: mô hình kinh doanh và đặc điểm dòng tiền hợp đồng

IFRS 9 yêu cầu phân loại tài sản tài chính căn cứ đồng thời vào mô hình kinh doanh mà đơn vị quản lý các tài sản tài chính và đặc điểm dòng tiền theo hợp đồng của tài sản tài chính (IFRS 9.4.1.1).
Mô hình kinh doanh cho biết đơn vị dự kiến thu hồi giá trị của tài sản bằng cách nào — thu dòng tiền theo hợp đồng, bán tài sản, hay kết hợp cả hai. Đặc điểm dòng tiền hợp đồng cho biết tài sản có phải là một khoản cho vay cơ bản hay không.
Ba mô hình kinh doanh
Mô hình kinh doanh được xác định ở cấp độ danh mục hoặc nhóm tài sản, phản ánh cách thức đơn vị thực tế quản lý tài sản để tạo ra dòng tiền, không phải ý định đối với từng công cụ riêng lẻ (IFRS 9.B4.1.2). Đây là vấn đề dựa trên dữ kiện có thể quan sát được, không phải một khẳng định chủ quan.
Lý do IFRS 9 lấy mô hình kinh doanh làm tiêu chí phân loại nằm ở nguyên tắc cơ sở đo lường phải phản ánh cách đơn vị thu hồi giá trị của tài sản. Một tài sản tài chính có thể tạo ra giá trị cho đơn vị theo hai con đường: thu dòng tiền theo hợp đồng cho đến khi đáo hạn, hoặc bán tài sản để hiện thực hóa biến động giá trị hợp lý. Thông tin kế toán hữu ích nhất với người sử dụng báo cáo tài chính khác nhau tùy con đường nào là chủ đạo. Khi đơn vị thu hồi giá trị bằng dòng tiền hợp đồng, biến động giá trị hợp lý trong kỳ nắm giữ không phản ánh kết quả kinh tế mà đơn vị thực sự thu về, nên giá trị phân bổ theo phương pháp lãi suất thực cho bức tranh trung thực hơn. Ngược lại, khi đơn vị thu hồi giá trị bằng việc mua bán, giá trị hợp lý tại mỗi thời điểm mới là con số quyết định, nên đo lường theo giá trị hợp lý mới phản ánh đúng bản chất. Ba mô hình kinh doanh chính là ba câu trả lời cho câu hỏi đơn vị thu hồi giá trị của tài sản bằng cách nào, và mỗi câu trả lời dẫn tới cơ sở đo lường tương thích.
Mô hình thứ nhất là nắm giữ tài sản nhằm thu dòng tiền theo hợp đồng (hold to collect). Ở mô hình này đơn vị thu hồi giá trị chủ yếu qua việc nhận gốc và lãi theo lịch hợp đồng, nên biến động giá trị hợp lý giữa kỳ không mang tính quyết định và giá trị phân bổ là cơ sở đo lường phù hợp. Việc bán tài sản tài chính không nhất thiết làm mất mô hình nắm giữ để thu dòng tiền hợp đồng nếu các giao dịch bán này không làm thay đổi bản chất rằng nguồn thu hồi giá trị chủ đạo vẫn là dòng tiền hợp đồng (IFRS 9.B4.1.3A–B4.1.3B). Giao dịch bán do rủi ro tín dụng của tài sản tăng lên có thể phù hợp với mô hình này bất kể tần suất và giá trị bán. Đối với giao dịch bán vì các lý do khác, giao dịch vẫn có thể phù hợp nếu không thường xuyên dù có giá trị đáng kể, hoặc nếu có giá trị không đáng kể xét riêng lẻ và tổng hợp dù xảy ra thường xuyên. Giao dịch bán gần ngày đáo hạn cũng có thể phù hợp nếu số tiền thu được xấp xỉ dòng tiền hợp đồng còn lại. Doanh nghiệp phải đánh giá hoạt động bán trong tổng thể tần suất, giá trị, thời điểm và lý do bán, thay vì xem xét riêng việc có phát sinh giao dịch bán hay không
Mô hình thứ hai là nắm giữ tài sản vừa nhằm thu dòng tiền theo hợp đồng vừa nhằm bán tài sản (hold to collect and sell). Ở mô hình này, cả việc thu dòng tiền và việc bán đều là cấu phần thiết yếu để đạt mục tiêu quản lý danh mục, và tần suất, giá trị bán thường cao hơn mô hình thứ nhất (IFRS 9.B4.1.4A–B4.1.4B). Vì cả hai con đường thu hồi giá trị đều trọng yếu, chuẩn mực yêu cầu một cơ sở đo lường phản ánh đồng thời cả hai: giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác cho phép trình bày tài sản theo giá trị hợp lý trên báo cáo tình hình tài chính, đồng thời vẫn ghi nhận lãi theo phương pháp lãi suất thực và tổn thất tín dụng vào lãi/lỗ như thể tài sản đo lường theo giá trị phân bổ, còn khoản chênh lệch giá trị hợp lý tích lũy thông qua thu nhập toàn diện khác được kết chuyển sang lãi/lỗ khi bán.
Mô hình thứ ba là các mô hình còn lại, bao gồm nắm giữ tài sản nhằm mục đích kinh doanh, thu lợi từ biến động giá trị hợp lý (IFRS 9.B4.1.5). Trong mô hình này, tài sản tài chính thường được quản lý chủ yếu trên cơ sở giá trị hợp lý hoặc thông qua hoạt động mua bán, chẳng hạn tài sản được nắm giữ để kinh doanh hoặc danh mục được quản lý và đánh giá hiệu quả trên cơ sở giá trị hợp lý (IFRS 9.B4.1.5). Đơn vị vẫn có thể thu một phần dòng tiền theo hợp đồng trong thời gian nắm giữ tài sản; tuy nhiên, việc thu các dòng tiền này chỉ mang tính phụ trợ và không phải là yếu tố chủ đạo hoặc thiết yếu để đạt được mục tiêu của mô hình kinh doanh. Vì kết quả quản lý danh mục phụ thuộc chủ yếu vào biến động giá trị hợp lý và hoạt động bán tài sản, việc đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ phản ánh phù hợp nhất cách thức đơn vị quản lý và thu hồi giá trị từ các tài sản đó, theo đó ghi nhận toàn bộ biến động giá trị hợp lý vào kết quả kinh doanh trong kỳ.
Kiểm định đặc điểm dòng tiền hợp đồng (Kiểm định SPPI)
Kiểm định SPPI xác định dòng tiền theo hợp đồng của tài sản, tại các ngày quy định, có phải chỉ là khoản thanh toán gốc và lãi trên số dư gốc còn lại hay không (IFRS 9.4.1.2(b), 4.1.2A(b)). Trong bối cảnh này, lãi là khoản bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ, cho rủi ro tín dụng gắn với số dư gốc trong một khoảng thời gian, và cho các rủi ro, chi phí cho vay cơ bản khác cùng biên lợi nhuận (IFRS 9.B4.1.7A).
Bản chất của kiểm định là xác định tài sản có phù hợp với một thỏa thuận cho vay cơ bản hay không. Khi hợp đồng đưa vào các điều khoản làm dòng tiền chịu rủi ro hoặc biến động không thuộc về một thỏa thuận cho vay cơ bản — ví dụ dòng tiền gắn với biến động giá cổ phiếu, giá hàng hóa, hoặc gắn với kết quả kinh doanh của bên vay – tài sản không vượt qua kiểm định SPPI và phải đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ, bất kể mô hình kinh doanh (IFRS 9.B4.1.7–B4.1.9).
Kết quả phân loại đối với công cụ nợ
Kết hợp hai tiêu chí cho ra ba nhóm đo lường đối với công cụ nợ. Tài sản vượt qua kiểm định SPPI và được nắm giữ trong mô hình thu dòng tiền theo hợp đồng đo lường theo giá trị phân bổ (IFRS 9.4.1.2). Tài sản vượt qua kiểm định SPPI và được nắm giữ trong mô hình vừa thu dòng tiền vừa bán đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác (IFRS 9.4.1.2A). Mọi tài sản còn lại không vượt qua kiểm định SPPI, hoặc thuộc mô hình kinh doanh khác – đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ (IFRS 9.4.1.4).
Công cụ vốn và các lựa chọn chỉ định
Khoản đầu tư vào công cụ vốn của đơn vị khác không có dòng tiền dạng gốc và lãi, nên không áp dụng kiểm định SPPI và mặc định đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ (IFRS 9.4.1.4). Đối với khoản đầu tư vào công cụ vốn thuộc phạm vi IFRS 9, không được nắm giữ để kinh doanh và không phải khoản thanh toán tiềm tàng được bên mua ghi nhận trong giao dịch hợp nhất kinh doanh thuộc IFRS 3, tại thời điểm ghi nhận ban đầu đơn vị được lựa chọn không hủy ngang, cho từng công cụ, trình bày các thay đổi giá trị hợp lý vào thu nhập toàn diện khác (IFRS 9.5.7.5). Khi áp dụng lựa chọn này, chỉ cổ tức được ghi nhận vào lãi/lỗ; các khoản lãi, lỗ giá trị hợp lý ghi vào thu nhập toàn diện khác và không được kết chuyển sang lãi/lỗ khi thanh lý (IFRS 9.B5.7.1).
Đây là điểm khác biệt căn bản so với công cụ nợ đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác – nơi khoản chênh lệch tích lũy trong thu nhập toàn diện khác được kết chuyển sang lãi/lỗ khi dừng ghi nhận. Với công cụ vốn được chỉ định, khoản chênh lệch do thay đổi giá trị hợp lý không bao giờ được ghi nhận qua lãi/lỗ. Lý do của sự khác biệt này là do lựa chọn trình bày qua thu nhập toàn diện khác là một ngoại lệ có chủ đích của chuẩn mực, IASB thiết kế lựa chọn này cho những trường hợp mà việc trình bày biến động giá trị hợp lý trong lãi/lỗ có thể không phản ánh phù hợp kết quả hoạt động của đơn vị, chẳng hạn khi khoản đầu tư mang tính chiến lược, dài hạn được nắm giữ để nhận các lợi ích phi hợp đồng thay vì chủ yếu nhằm thu lợi từ sự gia tăng giá trị của khoản đầu tư, do đó việc tách biến động giá trị của các khoản đầu tư vốn này ra khỏi kết quả kinh doanh trong kỳ để tránh gây nhiễu cho bức tranh lãi/lỗ hoạt động. Mục tiêu của ngoại lệ là giữ toàn bộ biến động giá trị nằm ngoài lãi/lỗ trong suốt vòng đời khoản đầu tư; nếu cho phép kết chuyển khi thanh lý, đơn vị sẽ có thể chủ động chọn thời điểm bán để đưa lãi hoặc lỗ tích lũy vào kết quả kinh doanh, làm mất chính mục tiêu mà ngoại lệ hướng tới. Vì vậy chuẩn mực quy định khoản chênh lệch không bao giờ được kết chuyển sang lãi/lỗ, kể cả khi thanh lý; đơn vị chỉ được chuyển khoản chênh lệch tích lũy giữa các khoản mục trong vốn chủ sở hữu (IFRS 9.B5.7.1).
Ngoài ra, tại thời điểm ghi nhận ban đầu, đơn vị có thể chỉ định không hủy ngang một tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ nếu việc chỉ định loại bỏ hoặc giảm đáng kể sự thiếu nhất quán trong đo lường hoặc ghi nhận phát sinh do đo lường tài sản, nợ phải trả trên các cơ sở khác nhau (IFRS 9.4.1.5).
Tái phân loại
Đơn vị chỉ tái phân loại tài sản tài chính khi và chỉ khi thay đổi mô hình kinh doanh quản lý tài sản đó — một sự kiện được kỳ vọng rất hiếm khi xảy ra (IFRS 9.4.4.1). Đặc điểm dòng tiền hợp đồng, một khi đã xác định tại ghi nhận ban đầu, không phải là căn cứ tái phân loại. Việc chỉ định công cụ vốn theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác và lựa chọn giá trị hợp lý đều không hủy ngang, không được thay đổi sau ghi nhận ban đầu.
Hướng dẫn kiểm định đặc điểm dòng tiền hợp đồng (kiểm định SPPI)
Bản chất của kiểm định
Nguyên tắc cốt lõi là xác định tài sản có phù hợp với một thỏa thuận cho vay cơ bản hay không. Trong một thỏa thuận cho vay cơ bản, giá trị thời gian của tiền tệ và rủi ro tín dụng thường là hai cấu phần trọng yếu nhất của lãi. Khi hợp đồng đưa vào các điều khoản làm dòng tiền chịu rủi ro hoặc mức biến động không thuộc về một thỏa thuận cho vay cơ bản — ví dụ dòng tiền gắn với biến động giá cổ phiếu, giá hàng hóa, hay gắn với kết quả kinh doanh của bên vay – tài sản không vượt qua kiểm định SPPI và phải đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ, bất kể mô hình kinh doanh (IFRS 9.B4.1.7–B4.1.9).
Cấu phần giá trị thời gian của tiền tệ và phép so sánh chuẩn
Giá trị thời gian của tiền tệ là cấu phần của lãi chỉ phản ánh yếu tố thời gian, không phản ánh các rủi ro hay chi phí khác. Trong một số trường hợp, yếu tố thời gian bị điều chỉnh hoặc không hoàn hảo – ví dụ lãi suất được thiết lập lại định kỳ nhưng kỳ hạn thiết lập lại không khớp với kỳ hạn của lãi suất tham chiếu (lãi suất thiết lập lại hằng tháng nhưng tham chiếu lãi suất kỳ hạn dài). Khi đó đơn vị phải đánh giá cấu phần giá trị thời gian của tiền tệ đã bị điều chỉnh bằng phép so sánh với dòng tiền của một công cụ chuẩn – công cụ có điều khoản tương đương nhưng không có yếu tố điều chỉnh. Nếu dòng tiền theo hợp đồng có thể khác biệt đáng kể so với dòng tiền của công cụ chuẩn, tài sản không đạt kiểm định SPPI (IFRS 9.B4.1.9B–B4.1.9D).
Điều khoản trả trước, gia hạn và các điều khoản đặc thù
Khi một điều khoản hợp đồng có thể làm thay đổi thời điểm hoặc số tiền của dòng tiền theo hợp đồng, đơn vị phải đánh giá các dòng tiền có thể phát sinh cả trước và sau khi sự thay đổi xảy ra. Điều khoản trả trước và điều khoản gia hạn được đánh giá theo các tiêu chí riêng. Điều khoản trả trước có thể phù hợp với kiểm định SPPI nếu số tiền trả trước về cơ bản đại diện cho phần gốc chưa thanh toán và lãi trên số dư gốc chưa thanh toán; số tiền này có thể bao gồm khoản bù đắp hợp lý mà một bên phải trả hoặc được nhận do chấm dứt hợp đồng trước hạn (IFRS 9.B4.1.11(b)). Đối với điều khoản gia hạn, quyền chọn gia hạn có thể phù hợp với kiểm định SPPI nếu các điều khoản áp dụng trong thời gian gia hạn làm phát sinh dòng tiền chỉ bao gồm các khoản thanh toán gốc và lãi trên số dư gốc chưa thanh toán, có thể bao gồm khoản bù đắp bổ sung hợp lý cho việc gia hạn hợp đồng (IFRS 9.B4.1.11(c)).
Với khoản vay không truy đòi mà nguồn trả nợ chỉ giới hạn ở dòng tiền của một tài sản hoặc dự án cụ thể, đơn vị phải xem xét xuyên suốt đến tài sản hoặc dòng tiền cơ sở (look through) để xác định dòng tiền có thực sự là gốc và lãi hay bản chất là chia sẻ rủi ro, lợi ích của tài sản cơ sở (IFRS 9.B4.1.16–B4.1.17).
Quy định mới có hiệu lực từ 01/01/2026: tài sản có điều khoản phụ thuộc sự kiện (contingent features)
Sửa đổi IFRS 9 do IASB ban hành tháng 5/2024, có hiệu lực cho kỳ báo cáo năm bắt đầu từ hoặc sau 01/01/2026 (cho phép áp dụng sớm), bổ sung hướng dẫn đánh giá SPPI đối với tài sản tài chính có điều khoản làm thay đổi thời điểm hoặc số tiền của dòng tiền theo hợp đồng khi một sự kiện bất thường xảy ra. Sửa đổi này ra đời chủ yếu để xử lý các khoản vay, trái phiếu gắn mục tiêu môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đang ngày càng phổ biến (IFRS 9.B4.1.10A).
Trên cơ sở đó, hướng dẫn mới yêu cầu xét hai lớp:
Thứ nhất, dòng tiền phải là gốc và lãi trong mọi kịch bản, cả trước và sau khi sự kiện xảy ra. Nếu ở bất kỳ kịch bản nào dòng tiền không còn là gốc và lãi, tài sản không đạt kiểm định.
Thứ hai, đối với điều khoản phụ thuộc sự kiện không liên quan trực tiếp đến thay đổi rủi ro hoặc chi phí cho vay cơ bản – điển hình là điều khoản gắn mục tiêu ESG của bên vay – tài sản vẫn có thể đạt kiểm định SPPI nếu dòng tiền theo hợp đồng trong từng kịch bản không khác biệt đáng kể so với dòng tiền của một tài sản tương tự không có điều khoản phụ thuộc sự kiện đó.
Ranh giới thực tiễn quan trọng nhất là phân biệt điều khoản gắn với sự kiện riêng của bên vay và điều khoản gắn với một biến số thị trường. Khoản vay có điều khoản tăng hoặc giảm lãi suất khi bên vay đạt hoặc không đạt mục tiêu giảm phát thải của chính bên vay, với biên độ điều chỉnh nhỏ, có thể vẫn đạt kiểm định SPPI. Ngược lại, khoản vay có lãi suất gắn với một chỉ số giá thị trường – ví dụ chỉ số giá carbon – không đạt kiểm định, vì dòng tiền khi đó phụ thuộc vào một biến số không liên quan đến rủi ro cho vay cơ bản.
Sửa đổi kèm theo cũng bổ sung yêu cầu thuyết minh của IFRS 7 đối với các công cụ có điều khoản làm thay đổi dòng tiền gắn với sự kiện bất thường, bao gồm bản chất của điều khoản và giá trị ghi sổ của các tài sản, nợ phải trả chịu ảnh hưởng.
Bảng minh họa các trường hợp thông thường đạt và không đạt kiểm định SPPI
| Trường hợp | Kết luận | Lý do |
| Trái phiếu lãi suất cố định thông thường, trả gốc khi đáo hạn | Thông thường đạt | Dòng tiền thuần túy là gốc và lãi cố định |
| Khoản vay lãi suất thả nổi bằng lãi suất tham chiếu thị trường cộng biên độ cố định | Thông thường đạt | Lãi phản ánh giá trị thời gian của tiền tệ và rủi ro tín dụng |
| Khoản vay có trần hoặc sàn lãi suất (cap/floor) | Thông thường đạt | Trần, sàn chỉ giới hạn biên độ của lãi cơ bản, không đưa thêm rủi ro ngoài cho vay |
| Khoản vay có điều chỉnh lãi suất theo hạng tín nhiệm của bên vay | Thông thường đạt | Điều chỉnh phản ánh thay đổi rủi ro tín dụng — một rủi ro cho vay cơ bản |
| Khoản vay có điều khoản trả trước bằng gốc và lãi còn lại cộng khoản bù đắp hợp lý | Thông thường đạt | Số tiền trả trước phản ánh gốc, lãi và bù đắp hợp lý cho chấm dứt sớm |
| Khoản vay bền vững tăng/giảm lãi suất theo mục tiêu giảm phát thải của chính bên vay, biên độ điều chỉnh nhỏ | Thông thường đạt | Điều khoản gắn sự kiện riêng của bên vay; dòng tiền không khác biệt đáng kể so với khoản vay tương tự không có điều khoản (IFRS 9.B4.1.10A) |
| Khoản cho vay có lãi suất gắn với doanh thu hoặc lợi nhuận của bên vay | Không đạt | Dòng tiền mang đặc tính chia sẻ kết quả kinh doanh, giống lợi ích vốn chủ, không phải lãi cơ bản |
| Trái phiếu chuyển đổi do đơn vị khác phát hành, đơn vị nắm giữ | Không đạt | Quyền chuyển đổi gắn dòng tiền với giá trị vốn chủ sở hữu của bên phát hành |
| Công cụ có gốc hoặc lãi gắn với giá hàng hóa, giá vàng hoặc chỉ số chứng khoán | Không đạt | Dòng tiền phụ thuộc biến số không thuộc thỏa thuận cho vay cơ bản |
| Khoản vay có lãi suất bằng bội số của lãi suất tham chiếu (đòn bẩy) | Không đạt | Yếu tố đòn bẩy khuếch đại biến động, làm mất đặc tính cho vay cơ bản |
| Khoản vay có lãi suất gắn với chỉ số giá carbon thị trường | Không đạt | Dòng tiền phụ thuộc biến số thị trường không liên quan rủi ro cho vay cơ bản |
| Khoản vay không truy đòi mà dòng tiền chỉ phụ thuộc kết quả một dự án cụ thể | Cần xem xét xuyên suốt | Phải look through đến tài sản cơ sở; nếu bản chất là chia sẻ rủi ro, lợi ích tài sản thì không đạt |
Bảng so sánh VAS và IFRS
| Tiêu chí | Quy định kế toán Việt Nam | Quy định IFRS | Hệ quả khi chuyển đổi |
| Cơ sở phân loại | Theo mục đích nắm giữ: chứng khoán kinh doanh, đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, đầu tư góp vốn (Thông tư 99/2025/TT-BTC) | Theo mô hình kinh doanh kết hợp kiểm định dòng tiền hợp đồng SPPI (IFRS 9.4.1.1) | Phân loại lại toàn bộ danh mục theo cơ sở mới, không có quy đổi một–một từ nhóm cũ sang nhóm mới |
| Số nhóm đo lường | Phân loại theo mục đích với đo lường chủ yếu là giá gốc trừ dự phòng | Ba nhóm: giá trị phân bổ, giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác, giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ | Xuất hiện nhóm đo lường theo giá trị hợp lý bắt buộc mà thực hành Việt Nam trước đây không có |
| Khoản cho vay có điều khoản đặc thù | Đo lường theo giá gốc bất kể điều khoản dòng tiền | Điều khoản gắn dòng tiền với biến số phi tín dụng làm tài sản trượt kiểm định SPPI, phải đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ (IFRS 9.B4.1.7–B4.1.9) | Một số khoản cho vay, trái phiếu có điều khoản gắn kết quả kinh doanh chuyển sang đo lường theo giá trị hợp lý |
| Tái phân loại | Chuyển đổi giữa các nhóm theo thay đổi mục đích nắm giữ | Chỉ tái phân loại khi thay đổi mô hình kinh doanh, được kỳ vọng rất hiếm (IFRS 9.4.4.1) | Giảm mạnh tần suất chuyển nhóm; yêu cầu tài liệu hóa mô hình kinh doanh ngay từ đầu |
Ví dụ minh họa: phân loại danh mục tài sản tài chính của một doanh nghiệp sản xuất
Công ty Cổ phần A là doanh nghiệp sản xuất bao bì, đang chuẩn bị chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS. Tại ngày chuyển đổi, danh mục tài sản tài chính của đơn vị gồm các khoản mục dưới đây. Đơn vị áp dụng ba mô hình kinh doanh: danh mục A quản lý các khoản đầu tư công cụ nợ nhằm thu dòng tiền theo hợp đồng; danh mục B quản lý các khoản đầu tư trái phiếu vừa thu dòng tiền vừa bán theo nhu cầu thanh khoản; hoạt động kinh doanh chứng khoán ngắn hạn quản lý riêng nhằm thu lợi từ biến động giá.
Bảng phân loại từng khoản mục
Mỗi khoản mục được xét lần lượt qua hai bước: kiểm định đặc điểm dòng tiền hợp đồng (chỉ áp dụng cho công cụ nợ), sau đó xác định mô hình kinh doanh.
| Khoản mục | Bản chất công cụ | Giả định kết quả kiểm định dòng tiền hợp đồng | Giả định mô hình kinh doanh | Kết quả phân loại |
| Tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng tại ngân hàng | Công cụ nợ | Đạt — gốc và lãi cố định | Thu dòng tiền hợp đồng | Giá trị phân bổ |
| Trái phiếu doanh nghiệp nắm giữ để thu lãi coupon đến đáo hạn | Công cụ nợ | Đạt — gốc và lãi trên số dư gốc | Thu dòng tiền hợp đồng | Giá trị phân bổ |
| Phải thu khách hàng từ bán bao bì | Công cụ nợ | Đạt — gốc và cấu phần tài chính không đáng kể | Thu dòng tiền hợp đồng | Giá trị phân bổ |
| Khoản cho vay đơn vị đối tác, lãi suất gắn với doanh thu của bên vay | Công cụ nợ | Không đạt — dòng tiền gắn kết quả kinh doanh, không phải lãi cơ bản | Không xét tiếp | Giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ |
| Danh mục trái phiếu chính phủ quản lý vừa thu vừa bán theo thanh khoản | Công cụ nợ | Đạt — gốc và lãi trên số dư gốc | Vừa thu dòng tiền vừa bán | Giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác |
| Cổ phiếu niêm yết nắm giữ kinh doanh ngắn hạn | Công cụ vốn | Không áp dụng | Kinh doanh thu lợi biến động giá | Giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ |
| Khoản đầu tư chiến lược 8% cổ phần công ty chưa niêm yết, dự kiến nắm giữ dài hạn (không có ảnh hưởng đáng kể, kiểm soát hay đồng kiểm soát) | Công cụ vốn | Không áp dụng | Không phải kinh doanh, đơn vị chỉ định qua thu nhập toàn diện khác | Giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác (theo lựa chọn) |
| Chứng chỉ quỹ mở đầu tư trái phiếu | Công cụ nợ theo hình thức nhưng dòng tiền không cố định | Không đạt — quyền lợi trên tài sản thuần của quỹ, không phải gốc và lãi | Không xét tiếp | Giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ |
| Trái phiếu chuyển đổi do đơn vị khác phát hành, đơn vị nắm giữ | Công cụ nợ có quyền chọn chuyển đổi | Không đạt — quyền chuyển đổi gắn dòng tiền với giá trị vốn chủ sở hữu bên phát hành | Không xét tiếp | Giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ |
Ba kết luận đáng lưu ý từ bảng trên. Thứ nhất, khoản cho vay có lãi suất gắn doanh thu bên vay và trái phiếu chuyển đổi nắm giữ đều trượt kiểm định dòng tiền hợp đồng, dù xét về hình thức là công cụ nợ; kết quả là đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ, không phụ thuộc mô hình kinh doanh. Thứ hai, chứng chỉ quỹ đầu tư trái phiếu không phải công cụ nợ dưới góc độ của nhà đầu tư nắm giữ, vì quyền lợi là phần trên giá trị tài sản thuần của quỹ chứ không phải khoản gốc và lãi. Thứ ba, khoản đầu tư chiến lược vào công ty chưa niêm yết chỉ đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác khi đơn vị chủ động thực hiện lựa chọn không hủy ngang; nếu không, khoản này mặc định đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ.
Lỗi thường gặp và vướng mắc khi triển khai tại Việt Nam
Đồng nhất mục đích nắm giữ theo chế độ kế toán Việt Nam với mô hình kinh doanh theo IFRS 9. Hai khái niệm không tương đương. Mục đích nắm giữ là ý định đối với từng khoản đầu tư, trong khi mô hình kinh doanh phản ánh cách đơn vị thực tế quản lý một danh mục để tạo dòng tiền, được đánh giá trên dữ kiện quan sát được ở cấp danh mục. Một khoản đầu tư trước đây phân loại “nắm giữ đến ngày đáo hạn” không đương nhiên thuộc mô hình thu dòng tiền hợp đồng nếu thực tế đơn vị bán tài sản đó với tần suất và giá trị đáng kể.
Bỏ qua kiểm định đặc điểm dòng tiền hợp đồng đối với các khoản cho vay và trái phiếu có điều khoản đặc thù. Các khoản cho vay nội bộ hoặc cho vay đối tác có lãi suất gắn với kết quả kinh doanh, doanh thu, hoặc chỉ số phi tài chính của bên vay thường trượt kiểm định SPPI và phải đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ. Đây là điểm dễ bị bỏ sót vì thực hành Việt Nam trước đây đo lường mọi khoản cho vay theo giá gốc.
Tiếp tục đo lường khoản đầu tư cổ phiếu chưa niêm yết theo giá gốc. IFRS 9 không cho phép đo lường công cụ vốn theo giá gốc; mọi khoản đầu tư cổ phiếu thuộc phạm vi IFRS 9 phải đo lường theo giá trị hợp lý. Với cổ phiếu chưa niêm yết không có giá niêm yết trên thị trường hoạt động, đơn vị phải xây dựng kỹ thuật định giá phù hợp, thường là định giá cấp 3 theo IFRS 13, và chuẩn bị nguồn lực cho việc xác định giá trị hợp lý định kỳ.
Nhầm lẫn cơ chế kết chuyển giữa công cụ nợ và công cụ vốn cùng đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác. Với công cụ nợ, khoản chênh lệch tích lũy trong thu nhập toàn diện khác được kết chuyển sang lãi/lỗ khi dừng ghi nhận; với công cụ vốn được chỉ định, khoản chênh lệch không bao giờ được kết chuyển sang lãi/lỗ. Trình bày sai cơ chế này dẫn đến ghi nhận sai kết quả kinh doanh khi thanh lý khoản đầu tư.
Thiếu tài liệu hóa mô hình kinh doanh ngay tại ngày ghi nhận ban đầu và ngày chuyển đổi. Vì tái phân loại chỉ được thực hiện khi thay đổi mô hình kinh doanh và được kỳ vọng rất hiếm, việc xác định và ghi nhận mô hình kinh doanh ngay từ đầu có ý nghĩa quyết định. Hồ sơ thiếu tài liệu hóa là điểm kiểm toán viên thường chất vấn khi soát xét cơ sở phân loại.
Một số câu hỏi thường gặp
Khoản phải thu khách hàng thông thường có cần chạy kiểm định SPPI đầy đủ không?
Khoản phải thu khách hàng không chứa cấu phần tài chính đáng kể về bản chất là gốc và lãi, nên thỏa mãn kiểm định dòng tiền hợp đồng và, khi được nắm giữ để thu về, đo lường theo giá trị phân bổ.
Tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn phân loại thế nào?
Cả hai là công cụ nợ có dòng tiền gốc và lãi, được nắm giữ để thu về, nên đo lường theo giá trị phân bổ. Riêng tiền và các khoản tương đương tiền được trình bày trên báo cáo tình hình tài chính theo quy định trình bày riêng, nhưng cơ sở đo lường vẫn là giá trị phân bổ.
Nếu một trái phiếu vừa đạt kiểm định dòng tiền hợp đồng vừa được nắm giữ để thu về nhưng đơn vị muốn đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ thì có được không?
Được, nhưng chỉ khi việc chỉ định loại bỏ hoặc giảm đáng kể sự thiếu nhất quán trong đo lường phát sinh do đo lường tài sản và nợ phải trả liên quan trên các cơ sở khác nhau. Lựa chọn giá trị hợp lý này không hủy ngang và phải thực hiện ngay tại thời điểm ghi nhận ban đầu.
Việc chỉ định công cụ vốn đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác có áp dụng cho cả danh mục cùng lúc không?
Không. Lựa chọn được thực hiện cho từng công cụ (instrument-by-instrument) tại thời điểm ghi nhận ban đầu, không áp dụng theo danh mục. Đơn vị có thể chỉ định một số khoản đầu tư cổ phiếu và để các khoản còn lại đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ.
Phân loại tài sản tài chính là bước nền của toàn bộ quá trình áp dụng IFRS 9, quyết định cơ sở đo lường, cách ghi nhận biến động giá trị và phạm vi áp dụng mô hình tổn thất tín dụng dự kiến cho từng khoản mục. Đội ngũ tư vấn chuyển đổi IFRS của chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp rà soát danh mục tài sản tài chính, xác lập và tài liệu hóa mô hình kinh doanh, thực hiện kiểm định đặc điểm dòng tiền hợp đồng cho từng khoản mục theo tình hình thực tế của đơn vị.
Bài viết được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin và hướng dẫn kỹ thuật chung, không cấu thành ý kiến tư vấn kế toán, kiểm toán, thuế hay pháp lý cho bất kỳ giao dịch hoặc đơn vị cụ thể nào. Các số liệu, giả định và bút toán trong bài chỉ mang tính minh họa và cần được điều chỉnh theo tình hình thực tế, xét đoán chuyên môn và hồ sơ của từng doanh nghiệp. Chúng tôi không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất nào phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bài viết khi chưa có tư vấn chuyên môn phù hợp. Để được hỗ trợ cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ đội ngũ tư vấn chuyển đổi IFRS của chúng tôi.




