IFRS 15 - Hợp đồng có nhiều nghĩa vụ thực hiện và thời điểm ghi nhận doanh thu: theo thời gian hay tại một thời điểm

IFRS 15 – Hợp đồng có nhiều nghĩa vụ thực hiện và thời điểm ghi nhận doanh thu: theo thời gian hay tại một thời điểm

03/09/2026

Trong thực tế, hợp đồng với khách hàng tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam thường không chỉ bao gồm một hàng hóa hoặc một dịch vụ đơn lẻ mà có thể gồm nhiều cam kết được cung cấp trong cùng một gói và thu một mức giá chung. Chẳng hạn, doanh nghiệp sản xuất bán máy móc kèm lắp đặt và bảo trì; doanh nghiệp thương mại bán thiết bị kèm bảo hành mở rộng; doanh nghiệp phần mềm cung cấp bản quyền hoặc quyền truy cập kèm triển khai và hỗ trợ kỹ thuật; doanh nghiệp viễn thông cung cấp thiết bị kèm dịch vụ thuê bao; nhà thầu xây dựng thực hiện thiết kế, thi công và vận hành; hoặc doanh nghiệp dịch vụ cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau trong cùng một hợp đồng.

Điểm quan trọng là IFRS 15 không mặc định toàn bộ các cam kết trong một hợp đồng là một đơn vị doanh thu duy nhất, cũng không xác định thời điểm ghi nhận doanh thu chỉ dựa vào thời điểm ký hợp đồng, xuất hóa đơn, thu tiền hoặc nghiệm thu chung. Đơn vị trước hết phải xác định các hàng hóa hoặc dịch vụ đã cam kết có phải là các nghĩa vụ thực hiện riêng biệt hay cần được kết hợp thành một nghĩa vụ thực hiện; sau đó xác định thời điểm từng nghĩa vụ được hoàn thành. Vì vậy, trong cùng một hợp đồng, có thể có nghĩa vụ được ghi nhận doanh thu theo thời gian và nghĩa vụ khác được ghi nhận tại một thời điểm.

Nội dung dưới đây tập trung vào Bước 2 (xác định nghĩa vụ thực hiện) và Bước 5 (thời điểm hoàn thành) trong khung năm bước của chuẩn mực IFRS 15.

CÁC KẾT LUẬN QUAN TRỌNG

  • IFRS 15 áp dụng khung năm bước; toàn bộ việc “khi nào ghi và ghi bao nhiêu” phụ thuộc vào cách tách nghĩa vụ thực hiện ở Bước 2 và cách xác định thời điểm hoàn thành ở Bước 5.
  • Một hàng hóa hoặc dịch vụ là nghĩa vụ thực hiện riêng biệt khi thỏa đồng thời hai điều kiện: khách hàng có thể thu lợi ích từ nó một cách độc lập (IFRS 15.27(a)) và nó tách biệt được trong bối cảnh hợp đồng (IFRS 15.27(b)). Nếu các cấu phần bị tích hợp, tùy chỉnh đáng kể hoặc phụ thuộc lẫn nhau cao (IFRS 15.29), chúng hợp thành một nghĩa vụ duy nhất.
  • Mỗi nghĩa vụ được ghi nhận theo thời gian nếu thỏa một trong ba tiêu chí tại IFRS 15.35(a), (b) hoặc (c); nếu không thỏa tiêu chí nào thì mặc định ghi nhận tại một thời điểm (IFRS 15.38), là thời điểm khách hàng nhận được quyền kiểm soát.
  • Ba tiêu chí ghi nhận theo theo thời gian độc lập nhau, chỉ cần thỏa một trong ba tiêu chí: khách hàng đồng thời nhận và tiêu dùng lợi ích (35(a)); tài sản do đơn vị tạo ra hoặc nâng cấp mà khách hàng kiểm soát trong quá trình đó (35(b)); tài sản không có công dụng thay thế đối với đơn vị và đơn vị có quyền đòi thanh toán có hiệu lực cho phần đã thực hiện (35(c)).
  • Thông tư 99/2025/TT-BTC, thay thế Thông tư 200 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026, đánh dấu bước tiệm cận IFRS 15: đưa vào nguyên tắc tôn trọng bản chất hơn hình thức, ghi nhận và phân bổ doanh thu theo nghĩa vụ cung ứng trên cơ sở giá bán đơn lẻ, và sử dụng khái niệm quyền kiểm soát trong một số trường hợp. Khoảng cách với IFRS 15 đã thu hẹp đáng kể; khác biệt còn lại tập trung ở đo lường chi tiết, bao gồm ước tính giá trị biến đổi, ghi nhận nợ phải trả bồi hoàn và tài sản quyền thu hồi hàng bán khi có quyền trả hàng, cấu phần tài chính đáng kể và chi phí hợp đồng.

Khung năm bước và vị trí của hai bước trọng tâm của IFRS 15

IFRS 15 quy định một mô hình thống nhất cho mọi hợp đồng với khách hàng, gồm năm bước: nhận diện hợp đồng (Bước 1); xác định các nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng (Bước 2); xác định giá giao dịch (Bước 3); phân bổ giá giao dịch cho từng nghĩa vụ thực hiện (Bước 4); và ghi nhận doanh thu khi hoặc trong khi đơn vị hoàn thành nghĩa vụ thực hiện (Bước 5). Nguyên tắc bao trùm của chuẩn mực là doanh thu được ghi nhận để phản ánh việc chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng theo số tiền phản ánh khoản mà đơn vị kỳ vọng được hưởng khi đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ đó (IFRS 15.2).

Bài này đi sâu vào Bước 2 và Bước 5, vì đây là hai bước quyết định trực tiếp thời điểm và số tiền doanh thu khi một hợp đồng chứa nhiều cấu phần. Bước 2 trả lời câu hỏi “hợp đồng này có mấy đơn vị doanh thu”, còn Bước 5 trả lời “mỗi đơn vị đó được ghi nhận vào lúc nào”. Hai bước còn lại về xác định và phân bổ giá giao dịch chỉ được nhắc ở mức cần thiết để hoàn chỉnh ví dụ.

Nghĩa vụ thực hiện và tiêu chí “riêng biệt”

Tại thời điểm bắt đầu hợp đồng, đơn vị phải rà soát các hàng hóa và dịch vụ đã cam kết và xác định mỗi cam kết đó là một nghĩa vụ thực hiện, nếu đó là một hàng hóa hoặc dịch vụ riêng biệt, hoặc một nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ về cơ bản giống nhau và có cùng phương thức chuyển giao (IFRS 15.22). Nghĩa vụ thực hiện là đơn vị ghi nhận doanh thu nhỏ nhất trong hợp đồng: mỗi nghĩa vụ được phân bổ một phần giá giao dịch và được ghi nhận theo mốc hoàn thành của riêng nó.

Một hàng hóa hoặc dịch vụ được coi là riêng biệt khi thỏa đồng thời hai điều kiện (IFRS 15.27). Thứ nhất, điều kiện có thể tách: khách hàng có thể thu được lợi ích từ hàng hóa hoặc dịch vụ đó một cách độc lập hoặc cùng với các nguồn lực khác đã sẵn có với khách hàng. Thứ hai, điều kiện tách biệt được trong bối cảnh hợp đồng: cam kết chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ đó tách biệt được với các cam kết khác trong hợp đồng. Điều kiện thứ nhất xét bản thân hàng hóa hoặc dịch vụ; điều kiện thứ hai xét mối quan hệ của nó với các cam kết còn lại.

Chuẩn mực đưa ra ba dấu hiệu cho thấy nhiều cam kết không tách biệt được trong bối cảnh hợp đồng, và do đó phải gộp thành một nghĩa vụ thực hiện (IFRS 15.29): đơn vị cung cấp một dịch vụ tích hợp đáng kể nhằm kết hợp các hàng hóa hoặc dịch vụ thành một sản phẩm đầu ra tổng hợp mà khách hàng đặt mua (IFRS 15.29(a)); một hoặc nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ làm thay đổi hoặc tùy chỉnh đáng kể hàng hóa hoặc dịch vụ khác (IFRS 15.29(b)); hoặc các hàng hóa hoặc dịch vụ phụ thuộc lẫn nhau hoặc liên quan lẫn nhau ở mức cao (IFRS 15.29(c)).

Logic của quy định này nằm ở chỗ chuẩn mực muốn đơn vị doanh thu phản ánh đúng thứ mà khách hàng thực sự mua. Nếu khách hàng mua từng cấu phần vì bản thân mỗi cấu phần có giá trị sử dụng riêng, thì mỗi cấu phần là một đơn vị chuyển giao và cần được ghi nhận riêng theo mốc hoàn thành của nó. Ngược lại, nếu thứ khách hàng đặt mua là một kết quả tổng hợp mà từng cấu phần chỉ là nguyên liệu để tạo ra kết quả đó, thì việc tách nhỏ sẽ bóp méo bức tranh chuyển giao; khi đó cả gói là một nghĩa vụ duy nhất. Đây là lý do điều kiện tách biệt được trong bối cảnh hợp đồng tồn tại song song với điều kiện có thể tách: một cấu phần có thể tự nó dùng được nhưng vẫn không riêng biệt nếu trong hợp đồng cụ thể nó bị hợp nhất vào một đầu ra chung.

Trường hợp một chuỗi hàng hóa hoặc dịch vụ về cơ bản giống nhau và có cùng phương thức chuyển giao, chẳng hạn dịch vụ lặp lại đều đặn qua nhiều kỳ, được xử lý như một nghĩa vụ thực hiện duy nhất (IFRS 15.22(b) và 15.23), thay vì tách thành vô số nghĩa vụ nhỏ. Cách gộp này chỉ áp dụng khi từng phần của chuỗi đều thỏa điều kiện ghi nhận theo thời gian và cùng một phương pháp đo lường tiến độ.

Quyền kiểm soát: nền tảng của thời điểm ghi nhận

Doanh thu được ghi nhận khi đơn vị hoàn thành nghĩa vụ thực hiện bằng việc chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ đã cam kết cho khách hàng, và hàng hóa hoặc dịch vụ được coi là chuyển giao khi khách hàng nhận được quyền kiểm soát (IFRS 15.31). Quyền kiểm soát một tài sản là khả năng định đoạt việc sử dụng và thu được về cơ bản toàn bộ lợi ích còn lại từ tài sản đó (IFRS 15.33), bao gồm cả khả năng ngăn đơn vị khác định đoạt và thu lợi ích từ tài sản.

Việc đặt quyền kiểm soát làm nền tảng, thay cho việc chuyển giao rủi ro và lợi ích, là thay đổi khái niệm gốc so với chuẩn mực doanh thu cũ. Chuyển giao rủi ro và lợi ích trở thành một trong các chỉ báo của việc chuyển giao kiểm soát chứ không còn là tiêu chí quyết định. Sự thay đổi này cho phép áp dụng một logic thống nhất cho cả hàng hóa lẫn dịch vụ, và đặc biệt cho phép ghi nhận doanh thu theo thời gian một cách nhất quán khi khách hàng kiểm soát tài sản trong suốt quá trình đơn vị thực hiện.

Quyền trả hàng và việc ghi nhận doanh thu khi đã chuyển giao quyền kiểm soát

Theo cách tiếp cận rủi ro và lợi ích trước đây, việc khách hàng còn quyền trả hàng dễ bị hiểu là rủi ro chưa chuyển giao hết, và doanh thu bị hoãn cho đến khi hết thời hạn trả hàng. IFRS 15 tách bạch hai vấn đề: quyền kiểm soát hàng hóa đã chuyển giao khi khách hàng nhận hàng và có khả năng định đoạt việc sử dụng, còn khả năng bị trả lại là một yếu tố làm cho số tiền đơn vị được hưởng trở nên chưa chắc chắn. Quyền trả hàng do đó được xử lý như một khoản giá trị biến đổi trong giá giao dịch, chứ không phải dấu hiệu cho thấy chưa chuyển giao kiểm soát; bản thân quyền trả hàng cũng không phải một nghĩa vụ thực hiện riêng (IFRS 15.B20–B22).

Vì vậy, doanh thu vẫn được ghi nhận tại thời điểm chuyển giao quyền kiểm soát ngay cả khi sản phẩm còn trong thời hạn được trả lại, nhưng chỉ ghi nhận cho phần đơn vị dự kiến được hưởng chắc chắn. Cụ thể, tại thời điểm chuyển giao, đơn vị ghi nhận đồng thời ba khoản (IFRS 15.B21): doanh thu cho số lượng hàng hóa dự kiến không bị trả lại; một khoản nợ phải trả bồi hoàn bằng số tiền dự kiến phải hoàn cho khách hàng đối với phần hàng dự kiến bị trả lại (IFRS 15.55); và một tài sản, là quyền thu hồi hàng bán đo lường theo giá trị ghi sổ trước đây của hàng tồn kho trừ đi chi phí dự kiến để thu hồi và mọi tổn thất giá trị của hàng bị trả lại (IFRS 15.B25), đồng thời điều chỉnh giá vốn hàng bán tương ứng.

Số doanh thu được ghi nhận bị giới hạn bởi bởi cơ chế giới hạn ước tính giá trị biến đổi của chuẩn mực: đơn vị chỉ đưa vào giá giao dịch phần giá trị biến đổi khi rất có khả năng rằng việc điều chỉnh giảm đáng kể doanh thu lũy kế đã ghi nhận sẽ không xảy ra khi mức độ chưa chắc chắn được giải tỏa (IFRS 15.56). Điều kiện tiên quyết là đơn vị ước tính được tỷ lệ trả hàng một cách đáng tin cậy dựa trên dữ liệu quá khứ hoặc bằng chứng khác. Khi chưa thể ước tính đáng tin cậy, chẳng hạn sản phẩm hoàn toàn mới, chưa có lịch sử, phần doanh thu tương ứng bị hoãn cho đến khi mức độ chưa chắc chắn được giải tỏa, thường là khi hết thời hạn trả hàng. Đơn vị cập nhật lại ước tính và khoản nợ phải trả bồi hoàn vào cuối mỗi kỳ báo cáo.

Trên phương diện chế độ kế toán Việt Nam, Thông tư 99/2025/TT-BTC vẫn duy trì cách tiếp cận truyền thống và chưa có hướng dẫn cụ thể về việc ghi nhận doanh thu trên cơ sở ước tính trước tỷ lệ hàng dự kiến bị trả lại. Khác với IFRS 15, yêu cầu đơn vị ước tính và tách bạch ngay tại thời điểm bán một khoản nợ phải trả bồi hoàn và một tài sản quyền thu hồi hàng bán, chế độ kế toán hiện hành ghi nhận doanh thu ban đầu theo giá trị hợp đồng, và chỉ điều chỉnh giảm doanh thu thông qua Tài khoản 521 (Các khoản giảm trừ doanh thu) khi nghiệp vụ hàng bán bị trả lại thực tế phát sinh. Hệ quả là, với cùng một giao dịch có quyền trả hàng, báo cáo theo IFRS phản ánh sớm ảnh hưởng dự kiến của việc trả hàng vào doanh thu thuần ngay trong kỳ bán, trong khi báo cáo theo chế độ kế toán Việt Nam ghi nhận ảnh hưởng đó tại kỳ phát sinh trả hàng thực tế. Khi lập báo cáo theo IFRS, đơn vị cần bút toán điều chỉnh để đưa doanh thu về cơ sở ước tính và ghi nhận khoản nợ phải trả bồi hoàn cùng tài sản quyền thu hồi hàng bán tương ứng.

Nghĩa vụ hoàn thành theo thời gian hay tại một thời điểm

Với mỗi nghĩa vụ thực hiện đã xác định, đơn vị phải quyết định ngay tại thời điểm bắt đầu hợp đồng rằng nghĩa vụ đó được hoàn thành theo thời gian hay tại một thời điểm. Chuẩn mực đảo ngược trật tự kiểm tra so với trực giác thông thường: trước hết xét xem nghĩa vụ có thỏa điều kiện ghi nhận theo thời gian hay không; chỉ khi không thỏa tiêu chí nào mới ghi nhận tại một thời điểm.

Một nghĩa vụ được hoàn thành theo thời gian nếu thỏa một trong ba tiêu chí sau (IFRS 15.35):

  • Tiêu chí thứ nhất (IFRS 15.35(a)): khách hàng đồng thời nhận được và tiêu dùng các lợi ích do đơn vị tạo ra ngay khi đơn vị thực hiện: điển hình ở các dịch vụ định kỳ, thường xuyên, mà nếu một đơn vị khác tiếp nhận phần việc còn lại thì không phải làm lại phần đã thực hiện.
  • Tiêu chí thứ hai (IFRS 15.35(b)): đơn vị tạo ra hoặc nâng cấp một tài sản mà khách hàng kiểm soát trong quá trình tài sản được tạo ra hoặc nâng cấp; vì khách hàng kiểm soát tài sản dở dang, việc chuyển giao diễn ra liên tục.
  • Tiêu chí thứ ba (IFRS 15.35(c)): tài sản do đơn vị tạo ra không có công dụng thay thế đối với chính đơn vị (IFRS 15.36), và đơn vị có quyền đòi thanh toán có hiệu lực đối với phần công việc đã hoàn thành đến thời điểm hiện tại (IFRS 15.37), trong đó quyền đòi thanh toán phải bao gồm cả phần bù đắp chi phí đã bỏ ra và một mức lợi nhuận hợp lý.

Nếu nghĩa vụ không thỏa tiêu chí nào trong ba tiêu chí trên, nghĩa vụ được hoàn thành tại một thời điểm, và đơn vị ghi nhận doanh thu tại thời điểm khách hàng nhận được quyền kiểm soát (IFRS 15.38). Các chỉ báo của việc chuyển giao quyền kiểm soát tại một thời điểm gồm: đơn vị có quyền hiện tại được thanh toán; khách hàng có quyền sở hữu pháp lý; khách hàng đã nhận chuyển giao vật chất; khách hàng đã tiếp nhận các rủi ro và lợi ích đáng kể của quyền sở hữu; và khách hàng đã chấp nhận tài sản.

Khi một nghĩa vụ được ghi nhận theo thời gian, đơn vị phải chọn một phương pháp đo lường tiến độ hoàn thành và áp dụng nhất quán cho các nghĩa vụ tương tự (IFRS 15.39–40). Có hai nhóm phương pháp: phương pháp đầu ra, đo theo giá trị của kết quả đã chuyển giao cho khách hàng (ví dụ khối lượng đã nghiệm thu); và phương pháp đầu vào, đo theo nguồn lực đã tiêu hao so với tổng nguồn lực dự kiến (ví dụ chi phí đã phát sinh trên tổng chi phí). Nếu đơn vị không đo lường hợp lý được tiến độ nhưng dự kiến bù đắp được chi phí, doanh thu chỉ được ghi nhận đến mức chi phí đã phát sinh cho tới khi có thể đo lường hợp lý được kết quả (IFRS 15.44–45).

Các dạng hợp đồng nhiều nghĩa vụ thường gặp tại Việt Nam

Loại hợp đồngCác nghĩa vụ thực hiện điển hìnhĐiểm cần xét đoán
Sản xuất – Máy móc, dây chuyền công nghiệp: bán máy kèm lắp đặt, chạy thử, đào tạo và bảo trìMáy móc; dịch vụ lắp đặt/chạy thử; đào tạo vận hành; dịch vụ bảo trìXác định lắp đặt, chạy thử có riêng biệt (“distinct”) với máy hay không. Nếu nhà cung cấp thực hiện dịch vụ tích hợp đáng kể để tạo ra một dây chuyền hoàn chỉnh, máy và lắp đặt có thể phải gộp thành một nghĩa vụ thực hiện theo IFRS 15.29. Bảo trì sau bàn giao thường được xem xét riêng và ghi nhận theo thời gian.
Sản xuất – Điện tử, điện gia dụng: bán sản phẩm kèm lắp đặt và gói bảo hành mở rộngSản phẩm; dịch vụ lắp đặt; bảo hành mở rộngPhân biệt bảo hành chỉ bảo đảm sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn đã cam kết với bảo hành dạng dịch vụ (“service-type warranty”). Chỉ phần dịch vụ bổ sung mới là một nghĩa vụ thực hiện riêng theo IFRS 15.B28–B33.
Sản xuất – Nội thất, thiết bị theo thiết kế riêng: thiết kế, sản xuất và lắp đặt trọn góiThiết kế; sản xuất; lắp đặt hoặc một nghĩa vụ tích hợp duy nhấtNếu khách hàng thực chất mua một sản phẩm hoàn thiện được thiết kế và lắp đặt đồng bộ, các cấu phần có thể không riêng biệt do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tích hợp đáng kể. Cần kiểm tra IFRS 15.29 trước khi tách từng công đoạn.
Sản xuất – Linh kiện, khuôn mẫu theo yêu cầu: thiết kế khuôn, chế tạo khuôn và cung cấp sản phẩm trong nhiều kỳThiết kế/chế tạo khuôn; các lô sản phẩmXác định khách hàng có kiểm soát khuôn hay nhận được lợi ích độc lập từ khuôn hay không; khuôn và sản phẩm có phụ thuộc lẫn nhau ở mức cao hay không. Các lô sản phẩm giống nhau cũng cần xem xét yêu cầu về chuỗi hàng hóa hoặc dịch vụ (“series”).
Thương mại – Phân phối thiết bị: bán thiết bị kèm cài đặt, đào tạo và hợp đồng bảo trìThiết bị; cài đặt; đào tạo; bảo trìCác dịch vụ đơn giản, khách hàng có thể mua từ nhà cung cấp khác thường dễ tách riêng. Ngược lại, cài đặt hoặc tùy chỉnh làm thay đổi đáng kể thiết bị có thể phải gộp với thiết bị.
Thương mại – Bán lẻ có chương trình khách hàng thân thiết: mua hàng được tích điểm đổi hàng hoặc giảm giá trong tương laiHàng hóa hiện tại; điểm thưởng/quyền mua hàng trong tương laiĐiểm thưởng hoặc ưu đãi là nghĩa vụ thực hiện riêng nếu tạo ra quyền lợi trọng yếu (“material right”) cho khách hàng theo IFRS 15.B39–B43; một phần giá giao dịch phải được phân bổ cho quyền này.
Thương mại điện tử – Bán hàng kèm lắp đặt và bảo hành mở rộngHàng hóa; dịch vụ lắp đặt; bảo hành dịch vụKhông nên mặc định toàn bộ giá trị hóa đơn là doanh thu hàng hóa tại ngày giao hàng. Phải xác định phần lắp đặt và bảo hành có phải các nghĩa vụ riêng biệt và phân bổ giá giao dịch tương ứng hay không.
Viễn thông – Bán điện thoại kèm gói cước: máy điện thoại, thoại/data và các dịch vụ bổ sungThiết bị đầu cuối; dịch vụ thoại/data; dịch vụ nội dung hoặc tiện ích bổ sungGiá bán máy được trợ giá không quyết định doanh thu của riêng máy. Giá giao dịch của toàn bộ hợp đồng phải được phân bổ cho từng nghĩa vụ theo giá bán riêng lẻ; thiết bị thường ghi nhận tại một thời điểm, dịch vụ viễn thông theo thời gian.
Công nghệ – Phần mềm SaaS: phí thiết lập ban đầu, quyền truy cập phần mềm, triển khai và hỗ trợQuyền truy cập phần mềm; triển khai/cấu hình; đào tạo; hỗ trợ/bảo trìPhí thiết lập ban đầu không tự động tạo ra một nghĩa vụ riêng. Cần đánh giá hoạt động triển khai có chuyển giao một dịch vụ riêng cho khách hàng hay chỉ là hoạt động cần thiết để doanh nghiệp cung cấp dịch vụ SaaS.
Công nghệ – Triển khai hệ thống ERP/CRM: phần mềm, phần cứng, tùy chỉnh, triển khai và bảo trìGiấy phép phần mềm; phần cứng; cấu hình/tùy chỉnh; triển khai; bảo trìNếu việc tùy chỉnh làm thay đổi đáng kể phần mềm hoặc các cấu phần được tích hợp thành một hệ thống duy nhất, nhiều cam kết có thể phải gộp thành một nghĩa vụ thực hiện. Phần bảo trì sau khi hệ thống đi vào hoạt động thường cần đánh giá riêng.
Giáo dục – Gói đào tạo trọn gói: học phí, giáo trình, nền tảng trực tuyến, lớp học và thi/chứng chỉGiáo trình; quyền truy cập nền tảng; giảng dạy; tổ chức thi/chứng chỉTừng cấu phần được tách nếu học viên có thể thu lợi ích độc lập và các cấu phần không bị tích hợp đáng kể. Đây cũng chính là mô hình đã được phân tích chi tiết trong ví dụ của bài viết.
Y tế – Gói khám sức khỏe hoặc điều trị: khám bác sĩ, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và tái khámKhám/tư vấn; xét nghiệm; chẩn đoán; các lần tái khám hoặc dịch vụ theo dõiCần đánh giá liệu khách hàng mua từng dịch vụ riêng hay mua một kết quả điều trị tích hợp. Với các dịch vụ có thể sử dụng độc lập, có thể tồn tại nhiều nghĩa vụ thực hiện với thời điểm hoàn thành khác nhau.
Logistics – Hợp đồng logistics trọn gói: vận tải, lưu kho và khai báo hải quanVận chuyển; lưu kho; khai báo hải quan hoặc các dịch vụ logistics khácXác định từng dịch vụ có riêng biệt hay doanh nghiệp cam kết cung cấp một giải pháp logistics tích hợp. Đối với dịch vụ do bên thứ ba cung cấp, cần đồng thời đánh giá doanh nghiệp là bên chính hay đại lý (“principal versus agent”).
Dịch vụ quản lý tòa nhà/nhà máy: vệ sinh, bảo vệ, vận hành kỹ thuật và bảo trìDịch vụ vệ sinh; bảo vệ; vận hành; bảo trì hoặc các chuỗi dịch vụ tương ứngCác dịch vụ lặp lại hàng ngày/tháng có thể đáp ứng tiêu chí chuỗi dịch vụ (“series”), khi đó mỗi nhóm dịch vụ tương tự được hạch toán như một nghĩa vụ thực hiện duy nhất và ghi nhận theo thời gian.
Khách sạn, nghỉ dưỡng: phòng nghỉ kèm ăn sáng, spa, đưa đón và điểm thưởngPhòng nghỉ; ăn uống; spa/đưa đón; điểm thưởngCần xác định dịch vụ nào được khách hàng nhận độc lập. Điểm thưởng có thể tạo ra quyền lợi trọng yếu. Doanh thu của từng cấu phần được ghi nhận khi dịch vụ tương ứng được cung cấp.
Quảng cáo, truyền thông: sáng tạo nội dung, sản xuất quảng cáo, quản lý chiến dịch và mua mediaSáng tạo/sản xuất nội dung; quản lý chiến dịch; dịch vụ media nếu doanh nghiệp kiểm soát dịch vụ trước khi chuyển cho khách hàngCó thể tồn tại một nghĩa vụ tích hợp nếu khách hàng mua kết quả của cả chiến dịch. Đối với chi phí quảng cáo trả cho Facebook, Google, đài truyền hình hoặc nền tảng khác, phải đặc biệt đánh giá bên chính/đại lý (“principal/agent”) để xác định doanh thu gộp hay thuần.
Du lịch – Tour trọn gói: vận chuyển, khách sạn, ăn uống, vé tham quan và hướng dẫn viênCác dịch vụ do doanh nghiệp trực tiếp cung cấp và/hoặc dịch vụ của bên thứ baTrọng tâm xét đoán là doanh nghiệp kiểm soát từng dịch vụ trước khi chuyển giao cho khách hay chỉ thu hộ/đặt hộ. Kết luận về bên chính/đại lý có thể ảnh hưởng lớn đến số doanh thu trình bày.
Xây dựng – Hợp đồng EPC: thiết kế, mua sắm thiết bị, xây dựng, chạy thử và bảo hành/bảo trì sau bàn giaoThiết kế, mua sắm và xây dựng có thể là một nghĩa vụ tích hợp; vận hành/bảo trì sau bàn giao có thể là nghĩa vụ riêngNếu nhà thầu cung cấp dịch vụ tích hợp đáng kể để tạo ra một nhà máy hoặc công trình hoàn chỉnh, thiết kế, mua sắm và thi công thường cần được xem xét gộp theo IFRS 15.29. Sau đó phải kiểm tra IFRS 15.35 để xác định ghi nhận theo thời gian.
Xây dựng – Hoàn thiện nội thất/MEP kèm bảo trì: thiết kế, thi công và bảo trì định kỳDịch vụ thiết kế và thi công có thể là một nghĩa vụ tích hợp; dịch vụ bảo trì sau hoàn thànhThiết kế và thi công có thể không riêng biệt nếu cùng tạo ra một đầu ra tổng hợp. Phần bảo trì trong các năm sau thường chuyển giao riêng và được ghi nhận theo thời gian.
Bất động sản – Bán căn hộ kèm gói nội thất và dịch vụ sau bàn giaoCăn hộ; gói nội thất/thiết bị nếu riêng biệt; dịch vụ quản lý hoặc tiện ích đã cam kếtKhông nên mặc định tất cả cấu phần đều thuộc giá bán căn hộ. Cần đánh giá nội thất có được tích hợp vào căn hộ trước khi chuyển quyền kiểm soát hay là hàng hóa riêng; dịch vụ sau bàn giao thường được ghi nhận theo thời gian.
Nông nghiệp – Gói vật tư và hỗ trợ canh tác: giống cây, phân bón, vật tư và tư vấn kỹ thuậtGiống/vật tư; phân bón; dịch vụ tư vấn hoặc giám sát kỹ thuậtHàng hóa thường được ghi nhận khi quyền kiểm soát chuyển giao; dịch vụ tư vấn định kỳ thường ghi nhận theo thời gian nếu riêng biệt. Nếu hỗ trợ kỹ thuật chỉ nhằm bảo đảm sản phẩm đáp ứng thông số đã cam kết, cần xem xét liệu có thực sự là nghĩa vụ riêng hay không.
Nuôi trồng thủy sản – Gói con giống, thức ăn và hỗ trợ kỹ thuật: tôm/cá giống, thức ăn, xét nghiệm nước và tư vấnCon giống; thức ăn; dịch vụ xét nghiệm/giám sát; tư vấn kỹ thuậtPhải xác định từng hàng hóa/dịch vụ có thể được khách hàng hưởng lợi độc lập hay các cấu phần tạo thành một giải pháp nuôi trồng tích hợp. Các đợt kiểm tra định kỳ có thể hình thành một chuỗi dịch vụ ghi nhận theo thời gian.
Năng lượng – Điện mặt trời áp mái: cung cấp thiết bị, thiết kế/lắp đặt, vận hành và bảo trìHệ thống điện mặt trời; thiết kế/lắp đặt hoặc một nghĩa vụ EPC tích hợp; giám sát/vận hành/bảo trìThiết bị và thi công có thể phải gộp nếu nhà cung cấp chịu trách nhiệm tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh. Dịch vụ giám sát và bảo trì sau nghiệm thu thường cần được tách và ghi nhận theo thời gian.

Bảng so sáng VAS và IFRS

Từ năm 2026, khi phân tích kế toán doanh thu theo quy định Việt Nam cần xem xét VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác cùng với Thông tư 99/2025/TT-BTC. Thông tư 99 đã đưa vào một số nguyên tắc có nét tương đồng với IFRS 15, như phản ánh bản chất giao dịch, phân bổ doanh thu đối với giao dịch có nhiều cấu phần và xem xét các nghĩa vụ cung ứng hiện tại, tương lai. Tuy nhiên, kế toán Việt Nam chưa áp dụng mô hình năm bước và mô hình chuyển giao quyền kiểm soát một cách thống nhất như IFRS 15.

Tiêu chíQuy định kế toán Việt NamQuy định IFRSHệ quả khi chuyển đổi
Cơ sở ghi nhận doanh thuVAS 14 và Thông tư 99 không áp dụng một mô hình thống nhất cho mọi hợp đồng với khách hàng mà quy định điều kiện ghi nhận theo bản chất từng loại giao dịch. Đối với bán hàng, doanh thu được ghi nhận khi đáp ứng các điều kiện, trong đó có việc chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu, doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa, doanh thu và chi phí được xác định phù hợp và có khả năng thu được lợi ích kinh tế. Đối với cung cấp dịch vụ, doanh thu được ghi nhận theo mức độ hoàn thành khi đáp ứng các điều kiện quy định. Thông tư 99 đồng thời nhấn mạnh việc phản ánh giao dịch theo bản chất hơn hình thức.IFRS 15 áp dụng một mô hình năm bước thống nhất cho hợp đồng với khách hàng. Nguyên tắc cốt lõi là ghi nhận doanh thu để phản ánh việc chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ đã cam kết cho khách hàng với số tiền mà doanh nghiệp kỳ vọng được hưởng. Việc chuyển giao dựa trên quyền kiểm soát (control) của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ (IFRS 15.2, 15.31–33).Khi chuyển đổi, doanh nghiệp phải thực hiện lại phân tích hợp đồng theo mô hình năm bước và đánh giá việc chuyển giao quyền kiểm soát, thay vì chỉ dựa trên tiêu chí rủi ro và lợi ích hoặc hình thức giao dịch.
Đơn vị ghi nhận doanh thuVAS 14 không có khái niệm nghĩa vụ thực hiện. Thông tư 99 đã yêu cầu trong một số trường hợp phải nhận biết các giao dịch hoặc nghĩa vụ cung ứng khác nhau trong cùng một hợp đồng và phân bổ doanh thu tương ứng. Tuy nhiên, Thông tư 99 không thiết lập đầy đủ bộ tiêu chí để xác định một hàng hóa hoặc dịch vụ là “riêng biệt” tương đương IFRS 15.27–30.Hợp đồng được tách thành các nghĩa vụ thực hiện riêng biệt theo hai điều kiện tại IFRS 15.27 và ba dấu hiệu gộp tại IFRS 15.29.Việc một hợp đồng được tách thành nhiều giao dịch hoặc cấu phần theo kế toán Việt Nam không đồng nghĩa sẽ có cùng số nghĩa vụ thực hiện theo IFRS 15. Khi chuyển đổi phải đánh giá lại từng cam kết theo các tiêu chí riêng biệt của IFRS 15.
Phân bổ giá cho hợp đồng nhiều cấu phầnThông tư 99 đã có nguyên tắc phân bổ doanh thu cho các nghĩa vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ hiện tại và tương lai trong một số giao dịch nhiều cấu phần. Đối với một số trường hợp như bán hàng kèm sản phẩm, dịch vụ khuyến mại có điều kiện, số tiền thu được phải được phân bổ cho các hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở giá bán đơn lẻ. Tuy nhiên, chế độ kế toán Việt Nam chưa có một mô hình phân bổ giá giao dịch toàn diện áp dụng thống nhất cho mọi hợp đồng tương đương IFRS 15.Phân bổ giá giao dịch cho từng nghĩa vụ theo giá bán riêng lẻ, ước tính khi không có giá quan sát được (IFRS 15.73–86).Nguyên tắc của Thông tư 99 đã tiến gần IFRS 15 đối với một số giao dịch nhiều cấu phần. Tuy nhiên, khi lập BCTC IFRS vẫn cần xác định giá bán riêng lẻ của từng nghĩa vụ thực hiện, rà soát cách phân bổ chiết khấu và giá trị biến đổi và thực hiện phân bổ lại nếu cần.
Thời điểm: theo thời gian hay tại một thời điểmKế toán Việt Nam về cơ bản vẫn phân biệt theo loại giao dịch. Bán hàng thường được ghi nhận khi đáp ứng các điều kiện chuyển giao theo VAS 14/Thông tư 99; cung cấp dịch vụ được ghi nhận theo mức độ hoàn thành khi kết quả giao dịch được xác định phù hợp. Không có bộ ba tiêu chí thống nhất tương đương IFRS 15.35 để áp dụng cho tất cả nghĩa vụ cung ứng.Áp dụng thống nhất ba tiêu chí theo thời gian tại IFRS 15.35(a)–(c); không thỏa tiêu chí nào thì ghi nhận tại một thời điểm (IFRS 15.38).Với từng nghĩa vụ theo thời gian, phải kiểm tra ba tiêu chí và chọn phương pháp đo tiến độ, thay vì mặc định theo loại giao dịch. Mỗi nghĩa vụ thực hiện phải được kiểm tra riêng theo IFRS 15.35. Điều này đặc biệt quan trọng với hợp đồng xây dựng, sản xuất theo đơn đặt hàng, triển khai hệ thống hoặc tài sản được thiết kế riêng.
Các yếu tố đo lường khácVAS và Thông tư 99 có các quy định riêng đối với một số khoản như chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại, bán hàng trả chậm/trả góp và một số yếu tố không chắc chắn trong hợp đồng. Tuy nhiên, chưa có một mô hình tổng thể tương đương IFRS 15 về giá trị biến đổi và giới hạn ghi nhận, quyền trả hàng, cấu phần tài chính đáng kể, tài sản và nợ phải trả hợp đồng và chi phí để có được hoặc thực hiện hợp đồng. Ví dụ, kế toán Việt Nam không có mô hình ghi nhận riêng refund liability và right-to-recover asset đối với hàng dự kiến bị trả lại như IFRS 15.IFRS 15 quy định chi tiết về giá trị biến đổi và variable consideration constraint (15.50–59); cấu phần tài chính đáng kể (15.60–65); quyền trả hàng và refund liability/right-to-recover asset (B20–B27); contract asset, receivable và contract liability; và chi phí để có được hoặc thực hiện hợp đồng (15.91–104).Đây vẫn là nhóm chênh lệch đáng kể khi chuyển đổi. Doanh nghiệp có thể phải thay đổi cả giá trị doanh thu, thời điểm ghi nhận, phân loại trên Bảng cân đối kế toán và thời điểm ghi nhận chi phí, đồng thời bổ sung các ước tính và dữ liệu mà hệ thống kế toán Việt Nam trước đây chưa yêu cầu theo dõi.

Ví dụ 1: hợp đồng đào tạo trọn gói có nhiều nghĩa vụ thực hiện

Công ty Cổ phần Giáo dục A là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đào tạo kỹ năng nghề. Công ty ký hợp đồng đào tạo cho một doanh nghiệp khách hàng với gói dành cho 100 nhân sự, tổng giá hợp đồng 2.000 triệu đồng, khách hàng thanh toán toàn bộ khi ký. Gói bao gồm bốn cấu phần: bộ giáo trình bản in giao cho từng học viên; quyền truy cập nền tảng học trực tuyến trong 12 tháng; mười buổi giảng trực tiếp theo lịch; và tổ chức kỳ thi cùng cấp chứng chỉ hoàn thành khi kết thúc chương trình. Đơn vị trong ví dụ: triệu đồng.

Xác định nghĩa vụ thực hiện

Bốn cấu phần đều thỏa hai điều kiện riêng biệt tại IFRS 15.27. Về điều kiện có thể tách (IFRS 15.27(a)): học viên thu được lợi ích từ mỗi cấu phần một cách độc lập: giáo trình dùng để tự học, nền tảng trực tuyến cung cấp bài giảng ghi sẵn, buổi giảng trực tiếp bổ sung tương tác, kỳ thi và chứng chỉ xác nhận năng lực. Về điều kiện tách biệt trong bối cảnh hợp đồng (IFRS 15.27(b)): công ty không thực hiện một dịch vụ tích hợp đáng kể để kết hợp bốn cấu phần thành một sản phẩm đầu ra duy nhất, các cấu phần không làm thay đổi hay tùy chỉnh lẫn nhau và không phụ thuộc lẫn nhau ở mức cao (không rơi vào IFRS 15.29). Do đó hợp đồng có bốn nghĩa vụ thực hiện riêng biệt. Việc phân loại này là một xét đoán; nếu chương trình được thiết kế để bốn cấu phần chỉ có giá trị khi dùng cùng nhau như một lộ trình tích hợp, kết luận có thể khác.

Phân bổ giá giao dịch theo giá bán riêng lẻ

Công ty có bán riêng từng cấu phần nên xác định được giá bán riêng lẻ của mỗi nghĩa vụ. Tổng giá bán riêng lẻ (2.500) lớn hơn giá giao dịch (2.000), phần chênh lệch là khoản chiết khấu gói được phân bổ theo tỷ lệ cho cả bốn nghĩa vụ (hệ số phân bổ 2.000 / 2.500 = 0,8).

Nghĩa vụ thực hiệnGiá bán riêng lẻHệ sốGiá giao dịch phân bổThời điểm ghi nhận
Giáo trình bản in2000,8160Tại một thời điểm – khi giao giáo trình
Quyền truy cập nền tảng 12 tháng1.2000,8960Theo thời gian – 35(a), đều 12 tháng
Mười buổi giảng trực tiếp8000,8640Theo thời gian – 35(a), theo số buổi
Tổ chức thi và cấp chứng chỉ3000,8240Tại một thời điểm – khi tổ chức thi
Cộng2.5002.000

Xác định thời điểm hoàn thành từng nghĩa vụ

Giáo trình bản in là hàng hóa, không thỏa tiêu chí nào trong ba tiêu chí theo thời gian, nên ghi nhận tại một thời điểm khi học viên nhận được quyền kiểm soát bộ giáo trình (IFRS 15.38): ghi nhận 160 khi giao.

Quyền truy cập nền tảng trực tuyến thỏa tiêu chí IFRS 15.35(a): học viên đồng thời nhận và tiêu dùng lợi ích của quyền truy cập trong suốt thời hạn nên ghi nhận theo thời gian. Do lợi ích trải đều, công ty đo tiến độ theo thời gian trôi qua và phân bổ đều: 960 / 12 = 80 mỗi tháng. Trường hợp bản chất của quyền truy cập là cấp quyền đối với tài sản trí tuệ đối với nội dung khóa học, đơn vị áp dụng hướng dẫn về cấp quyền tài sản trí tuệ tại IFRS 15.B52–B63: nếu là quyền được truy cập tài sản trí tuệ mà đơn vị tiếp tục duy trì và cập nhật thì vẫn ghi nhận theo thời gian (IFRS 15.B58); nếu chỉ là quyền sử dụng nội dung ở trạng thái sẵn có tại thời điểm cấp quyền thì ghi nhận tại một thời điểm.

Mười buổi giảng trực tiếp cũng thỏa IFRS 15.35(a); với giả định các buổi tương đương về thời lượng và giá trị, công ty đo tiến độ bằng phương pháp đầu ra theo số buổi đã giảng: 640 / 10 = 64 mỗi buổi. Nếu các buổi khác nhau đáng kể về giá trị, phương pháp đo phải phản ánh trung thực mức độ chuyển giao thay vì chia đều (IFRS 15.39).

Tổ chức thi và cấp chứng chỉ là một sự kiện hoàn thành tại thời điểm kỳ thi được tổ chức và chứng chỉ được cấp; không cấu phần nào của nghĩa vụ này được khách hàng tiêu dùng dần trước đó, nên ghi nhận tại một thời điểm: 240.

Bút toán

Khoản tiền khách hàng trả trước khi đơn vị hoàn thành nghĩa vụ được theo dõi trên tài khoản nợ phải trả hợp đồng. Khoản này tương ứng với Người mua trả tiền trước theo Thông tư 99/2025/TT-BTC; khi lập báo cáo theo IFRS, khoản trả trước có thể được phân loại lại và trình bày là nợ phải trả hợp đồng.

Khi ký hợp đồng và thu tiền:

Nợ Tiền (B/S) 2.000
Có Nợ phải trả hợp đồng (B/S) 2.000

Khi giao giáo trình bản in:

Nợ Nợ phải trả hợp đồng (B/S) 160
Có Doanh thu bán hàng – giáo trình (P/L) 160

Hằng tháng khi cung cấp quyền truy cập nền tảng (minh họa một tháng):

Nợ Nợ phải trả hợp đồng (B/S) 80
Có Doanh thu cung cấp dịch vụ – nền tảng học trực tuyến (P/L) 80

Khi hoàn thành mỗi buổi giảng (minh họa một buổi):

Nợ Nợ phải trả hợp đồng (B/S) 64
Có Doanh thu cung cấp dịch vụ – buổi giảng (P/L) 64

Khi tổ chức thi và cấp chứng chỉ:

Nợ Nợ phải trả hợp đồng (B/S) 240
Có Doanh thu cung cấp dịch vụ – thi và cấp chứng chỉ (P/L) 240

Tổng doanh thu ghi nhận qua vòng đời hợp đồng: 160 + (80 × 12) + (64 × 10) + 240 = 2.000, khớp giá giao dịch. Số dư nợ phải trả hợp đồng giảm dần về không khi nghĩa vụ cuối cùng hoàn thành.

Ví dụ 2 : hợp đồng không tách được thành nhiều nghĩa vụ

Công ty Cổ phần Giáo dục A ký một hợp đồng khác: thiết kế và triển khai một chương trình đào tạo riêng theo yêu cầu của doanh nghiệp khách hàng, gồm khảo sát nhu cầu, xây dựng giáo trình riêng, giảng dạy và đánh giá kết quả, giá 900. Ở hợp đồng này, khâu thiết kế giáo trình riêng và khâu giảng dạy phụ thuộc lẫn nhau ở mức cao và công ty cung cấp một dịch vụ tích hợp đáng kể để tạo ra một chương trình hoàn chỉnh cho khách hàng (IFRS 15.29(a) và 29(c)); giáo trình được xây riêng cho khách hàng, không có công dụng thay thế đối với công ty. Vì vậy toàn bộ hợp đồng là một nghĩa vụ thực hiện duy nhất.

Nghĩa vụ này được ghi nhận theo thời gian nếu thỏa IFRS 15.35(c): tài sản tạo ra không có công dụng thay thế đối với công ty, và hợp đồng cho công ty quyền đòi thanh toán có hiệu lực cho phần công việc đã hoàn thành, bao gồm một mức lợi nhuận hợp lý (IFRS 15.37). Điều kiện quyền đòi thanh toán là điểm mấu chốt và phải được kiểm tra trên điều khoản cụ thể: nhiều hợp đồng đào tạo tại Việt Nam không quy định quyền này, và khi đó nghĩa vụ không thỏa tiêu chí 35(c) mà chuyển sang ghi nhận tại một thời điểm khi bàn giao chương trình.

Riêng hoạt động giảng dạy nếu xét độc lập có thể tự thỏa 35(a), nhưng do cả gói là một nghĩa vụ tích hợp gồm cả khâu thiết kế nên tiêu chí 35(c) được xem xét để áp dụng cho toàn bộ nghĩa vụ. Giả định hợp đồng trong ví dụ có quyền đòi thanh toán có hiệu lực, công ty đo tiến độ bằng phương pháp đầu vào theo chi phí (cost-to-cost). Giả định tổng chi phí dự kiến để hoàn thành là 600; đến cuối kỳ báo cáo chi phí đã phát sinh là 240, tương ứng tiến độ 240 / 600 = 40%. Doanh thu ghi nhận trong kỳ là 900 × 40% = 360. Khi chi phí phát sinh không tỷ lệ thuận với mức độ chuyển giao – chẳng hạn chi phí thiết kế dồn về giai đoạn đầu — đơn vị cần điều chỉnh để tiến độ theo chi phí không phản ánh sai khối lượng đã chuyển giao (IFRS 15.B19).

Bút toán trong kỳ (giả định chưa nghiệm thu, ghi nhận tài sản hợp đồng):

Nợ Tài sản hợp đồng (B/S) 360
Có Doanh thu cung cấp dịch vụ – đào tạo theo hợp đồng (P/L) 360

Lỗi thường gặp và vướng mắc khi triển khai tại Việt Nam

Coi toàn bộ hợp đồng hoặc toàn bộ hóa đơn là một đơn vị doanh thu. Một hợp đồng có thể chứa nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ được chuyển giao tại các thời điểm khác nhau. Việc ghi nhận toàn bộ doanh thu cùng một thời điểm chỉ vì hợp đồng có một mức giá chung, khách hàng thanh toán một lần hoặc doanh nghiệp xuất một hóa đơn có thể không phản ánh đúng bản chất chuyển giao theo IFRS 15. Doanh nghiệp cần rà soát từng cam kết trong hợp đồng và xác định nghĩa vụ thực hiện theo IFRS 15.22–30.

Tách hoặc gộp nghĩa vụ thực hiện dựa trên hình thức hợp đồng thay vì bản chất của cam kết. Việc một hợp đồng liệt kê riêng nhiều hạng mục không đồng nghĩa mỗi hạng mục đều là một nghĩa vụ thực hiện riêng biệt. Ngược lại, việc nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ được bán trong một gói cũng không có nghĩa chúng phải được hạch toán chung. Doanh nghiệp phải đánh giá liệu khách hàng có thể thu được lợi ích từ từng hàng hóa hoặc dịch vụ và liệu cam kết đó có tách biệt trong bối cảnh hợp đồng theo IFRS 15.27–29 hay không. Đây thường là một trong những khu vực đòi hỏi xét đoán lớn nhất.

Dùng thời điểm xuất hóa đơn, thu tiền hoặc nghiệm thu làm căn cứ duy nhất để ghi nhận doanh thu. Các mốc này có thể là bằng chứng liên quan nhưng không tự động quyết định thời điểm ghi nhận doanh thu theo IFRS 15. Với từng nghĩa vụ thực hiện, doanh nghiệp phải kiểm tra ba tiêu chí tại IFRS 15.35 để xác định nghĩa vụ có được hoàn thành theo thời gian hay không; nếu không thỏa tiêu chí nào thì doanh thu mới được ghi nhận tại một thời điểm khi quyền kiểm soát được chuyển giao theo IFRS 15.38.

Thiếu dữ liệu về giá bán riêng lẻ khi hợp đồng có nhiều nghĩa vụ thực hiện. Nhiều doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm và dịch vụ theo gói nên không có giá bán quan sát trực tiếp cho từng cấu phần. Tuy nhiên, việc thiếu giá niêm yết riêng không có nghĩa doanh nghiệp được phân bổ giá giao dịch tùy ý. Khi không có giá bán riêng lẻ có thể quan sát được, doanh nghiệp phải ước tính theo các phương pháp phù hợp tại IFRS 15.78–80 và lưu giữ cơ sở của các ước tính này.

Áp dụng máy móc phương pháp ghi nhận theo thời gian. Ngay cả khi kết luận một nghĩa vụ được hoàn thành theo thời gian, doanh nghiệp vẫn phải lựa chọn phương pháp đo lường tiến độ phản ánh trung thực mức độ chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng. Việc mặc định chia đều doanh thu theo số tháng hoặc sử dụng tỷ lệ chi phí phát sinh trên tổng chi phí trong mọi trường hợp có thể dẫn đến sai lệch nếu phương pháp đó không phản ánh đúng tiến độ thực hiện.

Không đánh giá đầy đủ các điều khoản có thể ảnh hưởng đến số tiền và thời điểm ghi nhận doanh thu. Chiết khấu, thưởng phạt, quyền trả hàng, hoàn tiền, điểm thưởng, bảo hành dịch vụ, quyền mua thêm với giá ưu đãi hoặc các khoản thanh toán phụ thuộc kết quả có thể ảnh hưởng đáng kể đến giá giao dịch hoặc tạo ra một nghĩa vụ thực hiện khác. Doanh nghiệp cần đọc toàn bộ điều khoản thương mại thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của sản phẩm hoặc dịch vụ.

Không đánh giá đúng vai trò bên chính hay đại lý khi hợp đồng có sự tham gia của bên thứ ba. Các mô hình phân phối, thương mại điện tử, du lịch, logistics, quảng cáo, phần mềm và nhiều ngành dịch vụ thường có hàng hóa hoặc dịch vụ do bên thứ ba cung cấp. Doanh nghiệp cần xác định mình có kiểm soát hàng hóa hoặc dịch vụ trước khi chuyển giao cho khách hàng hay chỉ thu xếp để bên khác cung cấp; kết luận này quyết định doanh thu được trình bày theo giá trị gộp hay giá trị thuần.

Hệ thống dữ liệu và quy trình kế toán chưa theo dõi được doanh thu ở cấp nghĩa vụ thực hiện. Đây là khó khăn thực tế đáng kể khi áp dụng IFRS 15. Một hợp đồng có thể chứa nhiều nghĩa vụ với giá trị phân bổ và thời điểm hoàn thành khác nhau, trong khi hệ thống kế toán hiện tại chỉ theo dõi theo hóa đơn hoặc theo hợp đồng. Doanh nghiệp vì vậy có thể cần bổ sung dữ liệu về nghĩa vụ thực hiện, giá bán riêng lẻ, giá giao dịch được phân bổ, tiến độ hoàn thành và số dư tài sản hoặc nợ phải trả hợp đồng.

Một số câu hỏi thường gặp

Một hợp đồng có nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ thì có phải luôn tách thành nhiều nghĩa vụ thực hiện không? Không. Việc hợp đồng có nhiều cấu phần chỉ là điểm khởi đầu của phân tích. Mỗi hàng hóa hoặc dịch vụ chỉ được hạch toán như một nghĩa vụ thực hiện riêng nếu đáp ứng các điều kiện về tính riêng biệt tại IFRS 15.27. Nếu doanh nghiệp cung cấp một dịch vụ tích hợp đáng kể, một cấu phần làm thay đổi đáng kể cấu phần khác hoặc các cấu phần phụ thuộc lẫn nhau ở mức cao, chúng có thể phải được kết hợp thành một nghĩa vụ thực hiện theo IFRS 15.29.

Khách hàng thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng ngay từ đầu thì doanh nghiệp có được ghi nhận toàn bộ doanh thu ngay không? Không nhất thiết. Thời điểm thu tiền và thời điểm ghi nhận doanh thu là hai vấn đề khác nhau. Nếu doanh nghiệp đã thu tiền nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thực hiện, khoản tiền tương ứng nhìn chung được trình bày là nợ phải trả hợp đồng. Doanh thu chỉ được ghi nhận khi hoặc trong khi nghĩa vụ thực hiện tương ứng được hoàn thành.

Hợp đồng có nhiều nghĩa vụ nhưng doanh nghiệp không bán riêng từng cấu phần thì phân bổ giá giao dịch như thế nào? IFRS 15 không yêu cầu phải có giá bán riêng quan sát được cho mọi nghĩa vụ. Khi không có giá bán riêng lẻ có thể quan sát được, doanh nghiệp phải ước tính giá bán riêng lẻ theo IFRS 15.78–80, chẳng hạn bằng phương pháp đánh giá thị trường có điều chỉnh hoặc phương pháp chi phí dự kiến cộng lợi nhuận. Phương pháp giá trị còn lại chỉ được sử dụng khi đáp ứng các điều kiện của chuẩn mực.

Nghiệm thu có phải luôn là thời điểm ghi nhận doanh thu không? Không. Biên bản nghiệm thu hoặc sự chấp thuận của khách hàng có thể là một chỉ báo quan trọng trong một số hợp đồng, nhưng không phải lúc nào cũng quyết định thời điểm ghi nhận. Nếu một nghĩa vụ đáp ứng tiêu chí ghi nhận theo thời gian, doanh thu có thể đã được ghi nhận trong quá trình thực hiện trước ngày nghiệm thu cuối cùng. Ngược lại, với nghĩa vụ ghi nhận tại một thời điểm, cần đánh giá tổng thể các chỉ báo về việc chuyển giao quyền kiểm soát.

Có thể chia đều doanh thu theo thời hạn hợp đồng nếu nghĩa vụ được ghi nhận theo thời gian không? Chỉ khi phương pháp dựa trên thời gian phản ánh trung thực cách thức hàng hóa hoặc dịch vụ được chuyển giao cho khách hàng. IFRS 15 yêu cầu phương pháp đo lường tiến độ phải phản ánh mức độ hoàn thành nghĩa vụ thực hiện. Vì vậy, một số dịch vụ có thể phù hợp với phân bổ đều theo thời gian, trong khi hợp đồng sản xuất, xây dựng, triển khai hệ thống hoặc dịch vụ theo khối lượng công việc có thể cần sử dụng phương pháp khác.

Ưu đãi, điểm thưởng, bảo hành hoặc quyền mua thêm có phải luôn là chi phí bán hàng không? Không. Tùy bản chất điều khoản, các quyền này có thể tạo ra một nghĩa vụ thực hiện riêng, là một phần của giá trị biến đổi hoặc được xử lý theo hướng dẫn riêng của IFRS 15. Doanh nghiệp cần phân tích quyền mà khách hàng thực sự nhận được thay vì mặc định ghi nhận toàn bộ là chi phí tại thời điểm bán.

Khi doanh nghiệp mua dịch vụ của bên thứ ba rồi cung cấp lại cho khách hàng thì doanh thu ghi nhận theo giá trị gộp hay thuần? Điều này phụ thuộc vào việc doanh nghiệp là bên chính hay đại lý. Nếu doanh nghiệp kiểm soát hàng hóa hoặc dịch vụ trước khi chuyển giao cho khách hàng, doanh nghiệp thường là bên chính và ghi nhận doanh thu theo giá trị gộp. Nếu doanh nghiệp chỉ thu xếp cho một bên khác cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, doanh thu thường chỉ là phần phí hoặc hoa hồng mà doanh nghiệp được hưởng.

Doanh nghiệp đã hạch toán theo Thông tư 99/2025/TT-BTC thì khi lập báo cáo IFRS 15 có còn phải rà soát lại hợp đồng không? Có. Thông tư 99 đã đưa cách tiếp cận kế toán Việt Nam gần hơn với IFRS 15 ở một số nguyên tắc như nghĩa vụ cung ứng và phân bổ doanh thu theo giá bán đơn lẻ. Tuy nhiên, khi lập báo cáo theo IFRS, doanh nghiệp vẫn cần rà soát chi tiết các tiêu chí xác định nghĩa vụ thực hiện, thời điểm hoàn thành, giá trị biến đổi, quyền trả hàng, cấu phần tài chính đáng kể, chi phí hợp đồng và các yêu cầu đo lường khác của IFRS 15.

Việc xác định đúng nghĩa vụ thực hiện và thời điểm ghi nhận doanh thu là bước nền cho toàn bộ chuỗi chuyển đổi IFRS 15; đội ngũ tư vấn chuyển đổi IFRS của chúng tôi có thể hỗ trợ đơn vị rà soát danh mục hợp đồng và thiết lập chính sách ghi nhận doanh thu phù hợp.

 

Bài viết được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin và hướng dẫn kỹ thuật chung, không cấu thành ý kiến tư vấn kế toán, kiểm toán, thuế hay pháp lý cho bất kỳ giao dịch hoặc đơn vị cụ thể nào. Các số liệu, giả định và bút toán trong bài chỉ mang tính minh họa và cần được điều chỉnh theo tình hình thực tế, xét đoán chuyên môn và hồ sơ của từng doanh nghiệp. Chúng tôi không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất nào phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bài viết khi chưa có tư vấn chuyên môn phù hợp. Để được hỗ trợ cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ đội ngũ tư vấn chuyển đổi IFRS của chúng tôi.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Picture of Trần Thị Gia Ngọc

Trần Thị Gia Ngọc

Audit Associate Partner tại Crowe Vietnam, sở hữu CPA, CTA, U.S. CMA, hơn 15 năm kinh nghiệm kiểm toán và tư vấn doanh nghiệp.

Ấn phẩm liên quan

Lên đầu trang

Đăng ký tư vấn