Vốn hóa nghĩa vụ tháo dỡ, di dời và khôi phục hiện trạng vào nguyên giá PPE theo IAS 16 và IFRIC 1

Vốn hóa nghĩa vụ tháo dỡ, di dời và khôi phục hiện trạng vào nguyên giá PPE theo IAS 16 và IFRIC 1 – khác biệt trọng yếu với VAS 03 và Thông tư 99

24/07/2026

Doanh nghiệp xây nhà xưởng trên đất thuê khu công nghiệp, lắp đặt trạm phát sóng trên đất hoặc mái nhà thuê, xây dựng trang trại điện gió, điện mặt trời thông thường có điều khoản trả lại nguyên trạng khi hết hạn – tất cả thường làm phát sinh một nghĩa vụ hiện tại về việc sẽ phải chi tiền trong tương lai để tháo dỡ tài sản và khôi phục địa điểm. Theo quy định hiện hành tại Việt Nam, doanh nghiệp được phép trích lập dự phòng cho nghĩa vụ khôi phục, hoàn trả mặt bằng và ghi đối ứng vào chi phí, nhưng không vốn hóa nghĩa vụ này vào nguyên giá tài sản; trên thực tế nhiều đơn vị không trích lập dự phòng mà chỉ ghi nhận chi phí khi thực chi vào cuối vòng đời tài sản. Theo IAS 16, giá trị hiện tại của khoản chi phí ước tính đó phải được vốn hóa vào nguyên giá tài sản ngay tại thời điểm ghi nhận ban đầu, kéo theo một khoản dự phòng phải trả, chi phí khấu hao cao hơn và ghi nhận khoản chi phí tài chính mới phát sinh qua từng năm.

Các kết luận quan trọng

  1. Nghĩa vụ tháo dỡ, di dời tài sản và khôi phục hiện trạng phát sinh khi lắp đặt tài sản được vốn hóa vào nguyên giá bất động sản, nhà xưởng và thiết bị (property, plant and equipment – PPE) theo giá trị hiện tại của ước tính chi phí (IAS 16.16(c)), đối ứng ghi nhận một khoản dự phòng phải trả theo IAS 37. Điểm khác biệt cốt lõi với quy định Việt Nam không phải là có ghi nhận dự phòng hay không, mà là IFRS yêu cầu chiết khấu về hiện tại và vốn hóa nghĩa vụ vào nguyên giá tài sản, trong khi Thông tư 99/2025/TT-BTC hướng dẫn ghi nhận khoản dự phòng vào chi phí và thực hành thường không chiết khấu.
  2. Cấu phần nghĩa vụ nằm trong nguyên giá được khấu hao cùng tài sản theo thời gian sử dụng hữu ích.
  3. Khoản chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa phải trả trong tương lai và giá trị hiện tại được ghi nhận dần qua từng kỳ vào chi phí tài chính, gọi là dỡ bỏ chiết khấu (unwinding of discount) (IFRIC 1.8).
  4. Khi ước tính chi phí, thời điểm dự kiến thực hiện nghĩa vụ hoặc lãi suất chiết khấu thay đổi, doanh nghiệp điều chỉnh biến động khoản dự phòng theo IFRIC 1: nếu áp dụng mô hình giá gốc: điều chỉnh phần tăng/giảm bằng cách cộng/trừ trực tiếp vào nguyên giá tài sản (không được giảm tài sản xuống thấp hơn 0 và phần giảm nghĩa vụ vượt quá giá trị ghi sổ của tài sản phải ghi nhận ngay vào lãi/lỗ); nếu áp dụng mô hình đánh giá lại: xử lý khoản chênh lệch vào thặng dư đánh giá lại (OCI) hoặc lãi/lỗ tùy trường hợp cụ thể.
  5. Chỉ phần nghĩa vụ phát sinh khi tài sản được mua hoặc xây dựng được vốn hóa vào nguyên giá PPE. Phần nghĩa vụ phát sinh do sử dụng tài sản để sản xuất (ví dụ nghĩa vụ hoàn nguyên tăng dần theo sản lượng khai thác mỏ) được ghi nhận theo IAS 2, không vốn hóa vào nguyên giá tài sản.

Vì sao IAS 16 yêu cầu vốn hóa nghĩa vụ tháo dỡ, di dời và khôi phục hiện trạng vào nguyên giá tài sản?

IAS 16.16 quy định nguyên giá một tài sản gồm ba nhóm cấu phần: giá mua, các chi phí trực tiếp để đưa tài sản đến trạng thái và vị trí sẵn sàng sử dụng, và tại điểm (c) – ước tính ban đầu về chi phí tháo dỡ, di dời tài sản và khôi phục hiện trạng địa điểm nơi tài sản tọa lạc. Lý do của quy định này nằm ở bản chất của nghĩa vụ: nếu doanh nghiệp chỉ có quyền đặt tài sản tại một địa điểm với điều kiện cam kết tháo dỡ tài sản và khôi phục hiện trạng khi rời đi, thì chi phí tháo dỡ tài sản và khôi phục hiện trạng đó là một phần không tách rời của cái giá phải trả để sở hữu và vận hành tài sản. Ghi nhận vào nguyên giá và khấu hao dần qua vòng đời tài sản phản ánh đúng việc chi phí này được tiêu dùng song song với lợi ích kinh tế mà tài sản mang lại.

Khoản đối ứng của phần vốn hóa là một khoản dự phòng phải trả, được đo lường theo IAS 37: bằng ước tính tốt nhất của khoản chi tiêu cần thiết để thanh toán nghĩa vụ (IAS 37.36), và khi ảnh hưởng của giá trị thời gian của tiền là trọng yếu, dự phòng được ghi nhận theo giá trị hiện tại (IAS 37.45). Lãi suất chiết khấu là lãi suất trước thuế phản ánh giá trị thời gian của tiền và các rủi ro riêng của khoản nợ (IAS 37.47).

Vì dự phòng được ghi theo giá trị hiện tại nên thấp hơn số tiền danh nghĩa sẽ phải trả khi đến hạn. Qua từng năm, khi thời điểm thanh toán đến gần, giá trị hiện tại của khoản dự phòng tăng dần cho tới khi bằng số danh nghĩa. Phần tăng lên mỗi kỳ chính là dỡ bỏ chiết khấu, và được ghi nhận vào chi phí tài chính (IFRIC 1.8).

Ranh giới quan trọng đặt tại IAS 16.18: nghĩa vụ tháo dỡ, khôi phục phát sinh do đã sử dụng tài sản để sản xuất hàng tồn kho trong kỳ không đi vào nguyên giá PPE mà được ghi nhận theo IAS 2. Nói cách khác, nghĩa vụ hình thành ngay khi lắp đặt (ví dụ: dựng xong tua-bin điện gió thì đã phát sinh toàn bộ nghĩa vụ tháo dỡ) thì vốn hóa vào tài sản; nghĩa vụ tích tụ dần theo mức độ hoạt động (ví dụ: nghĩa vụ hoàn nguyên một mỏ khai khoáng tăng lên theo khối lượng đã khai thác) thì phần tăng thêm mỗi kỳ được ghi vào chi phí sản xuất, có thể trở thành một cấu phần của giá trị hàng tồn kho.

Xử lý khi thay đổi ước tính dự phòng theo IFRIC 1: mô hình giá gốc và mô hình đánh giá lại

Sau ghi nhận ban đầu, giá trị ước tính về nghĩa vụ tháo dỡ, khôi phục hiếm khi giữ nguyên. IFRIC 1.3 xác định ba nguồn làm thay đổi giá trị khoản nợ: thay đổi ước tính dòng tiền phải chi để thanh toán nghĩa vụ; thay đổi lãi suất chiết khấu thị trường hiện hành (phản ánh giá trị thời gian của tiền và rủi ro riêng của khoản nợ); và phần tăng do trôi qua thời gian, tức dỡ bỏ chiết khấu. Phần dỡ bỏ chiết khấu luôn được ghi vào chi phí tài chính trong kỳ (IFRIC 1.8) và không bao giờ điều chỉnh vào nguyên giá tài sản. Hai nguồn còn lại – thay đổi ước tính dòng tiền và thay đổi lãi suất chiết khấu mới là đối tượng của cơ chế điều chỉnh mô tả dưới đây, và khi đo lường lại, doanh nghiệp dùng lãi suất chiết khấu thị trường tại thời điểm đánh giá lại chứ không giữ lãi suất ban đầu.

Trường hợp áp dụng Mô hình giá gốc:

Thay đổi của khoản dự phòng được cộng vào hoặc trừ khỏi nguyên giá tài sản liên quan (IFRIC 1.5). Khi nghĩa vụ tăng (chi phí ước tính cao hơn hoặc lãi suất chiết khấu giảm), phần tăng làm tăng nguyên giá; đây cũng là dấu hiệu cần cân nhắc liệu giá trị còn lại mới của tài sản có còn thu hồi được đầy đủ hay không, nếu nghi ngờ thì đánh giá tổn thất theo IAS 36.

Khi nghĩa vụ giảm, phần giảm được trừ khỏi nguyên giá, nhưng số trừ không được vượt quá giá trị còn lại của tài sản; nếu mức giảm của khoản nợ lớn hơn giá trị còn lại của tài sản, phần vượt được ghi nhận ngay vào báo cáo lãi/lỗ. Sau điều chỉnh, giá trị còn lại mới được khấu hao theo phương pháp phi hồi tố trên thời gian sử dụng hữu ích còn lại.

Trường hợp áp dụng Mô hình đánh giá lại:

Ở mô hình này, thay đổi của khoản dự phòng tác động đến thặng dư đánh giá lại của chính tài sản chứ không điều chỉnh vào nguyên giá (IFRIC 1.6), lý do là nguyên giá tài sản đang được “neo” ở giá trị hợp lý. Nếu lại đi điều chỉnh nguyên giá theo biến động của khoản dự phòng, giá trị ghi sổ sẽ lệch khỏi giá trị hợp lý — phá vỡ chính bản chất của mô hình đánh giá lại. Vì vậy IFRIC 1 không cho phép điều chỉnh vào nguyên giá; thay vào đó, biến động dự phòng được cho ghi nhận qua cơ chế thặng dư đánh giá lại của tài sản đó.

Khi nghĩa vụ giảm, phần giảm được ghi vào thu nhập toàn diện khác (OCI) và làm tăng thặng dư đánh giá lại trong vốn chủ sở hữu; ngoại lệ là phần giảm đó được ghi vào lãi/lỗ trong phạm vi nó hoàn nhập một khoản giảm do đánh giá lại của cùng tài sản đã từng được ghi vào lãi lỗ trước đây.

Khi nghĩa vụ tăng, phần tăng được ghi vào lãi/lỗ; ngoại lệ là phần tăng được ghi giảm thặng dư đánh giá lại qua OCI trong phạm vi số dư thặng dư đánh giá lại hiện có của tài sản đó.

Ngoài ra, nếu mức giảm của khoản dự phòng lớn hơn giá trị còn lại đáng lẽ được ghi nhận nếu tài sản áp dụng mô hình giá gốc, phần vượt được ghi nhận ngay vào lãi/lỗ. Một điểm đặc thù của mô hình đánh giá lại: bản thân việc khoản dự phòng thay đổi là dấu hiệu cho thấy tài sản có thể cần được đánh giá lại để giá trị còn lại không chênh lệch trọng yếu so với giá trị hợp lý tại ngày báo cáo; và nếu phải đánh giá lại, toàn bộ nhóm tài sản cùng loại phải được đánh giá lại chứ không chỉ riêng tài sản đó. Sau cùng, giá trị phải khấu hao được điều chỉnh và khấu hao phi hồi tố trên thời gian còn lại (IFRIC 1.7).

Bảng so sánh VAS vs IFRS

Tiêu chíQuy định kế toán Việt NamQuy định IFRSHệ quả khi chuyển đổi
Vốn hóa nghĩa vụ ước tính vào nguyên giá tài sảnNguyên giá không bao gồm chi phí tháo dỡ, di dời và khôi phục hiện trạng ước tínhNguyên giá bao gồm chi phí tháo dỡ, di dời và khôi phục hiện trạng ước tínhNguyên giá tài sản và chi phí khấu hao hằng năm tăng
Điều kiện và thời điểm ghi nhận dự phòngGhi nhận khi có nghĩa vụ nợ hiện tại (pháp lý hoặc liên đới) từ sự kiện đã xảy ra, khả năng cao phải chi trả và ước tính được đáng tin cậyGhi nhận khi có nghĩa vụ nợ hiện tại (pháp lý hoặc liên đới) từ sự kiện đã xảy ra, khả năng cao phải chi trả và ước tính được đáng tin cậyKhông thay đổi.
Bên đối ứng của khoản dự phòngGhi vào chi phí (không vốn hóa vào nguyên giá tài sản)Ghi tăng nguyên giá tài sản, sau đó khấu hao theo thời gian sử dụng hữu íchGhi nhận chi phí nhiều kỳ thông qua khấu hao thay vì ghi nhận chi phí một lần
Giá trị thời gian của tiền của khoản dự phòngVAS 18 có nguyên tắc chiết khấu khi trọng yếu, nhưng thực tiễn áp dụng thường không chiết khấu dự phòng dài hạnChiết khấu bắt buộc khi trọng yếu; dỡ bỏ chiết khấu hằng năm vào chi phí tài chínhKhác biệt trong giá trị ghi nhận ban đầu và phát sinh chi phí tài chính mới mỗi kỳ
Thay đổi ước tính dự phòngĐiều chỉnh vào chi phí trong kỳĐiều chỉnh nguyên giá tài sản đối với mô hình giá gốc hoặc xử lý vào thặng dư đánh giá lại hoặc lãi/lỗ đối với mô hình đánh giá lại tùy trường hợp cụ thểNguyên giá tài sản có thể biến động khi cập nhật ước tính

Ví dụ minh họa: nhà xưởng trên đất thuê khu công nghiệp 30 năm

Công ty TNHH A là doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, xây dựng nhà xưởng trên khu đất thuê trong khu công nghiệp với thời hạn thuê còn lại 30 năm. Hợp đồng thuê yêu cầu Công ty A tháo dỡ nhà xưởng và trả lại mặt bằng nguyên trạng khi kết thúc thời hạn thuê. Đơn vị tính: triệu đồng.

Các số liệu dưới đây là giả định để minh họa cơ chế tính toán:

  1. Ngày đưa nhà xưởng vào sử dụng: 01/01/20X1.
  2. Nguyên giá xây dựng nhà xưởng (chưa gồm nghĩa vụ tháo dỡ): 100.000.
  3. Ước tính chi phí tháo dỡ và khôi phục hiện trạng phải trả tại thời điểm hết hạn thuê (giá trị danh nghĩa tương lai, sau 30 năm): 20.000.
  4. Lãi suất chiết khấu trước thuế: 8%/năm.
  5. Khấu hao đường thẳng trong 30 năm, thời gian sử dụng hữu ích khớp thời hạn thuê.

Bước 1 – Xác định giá trị hiện tại của nghĩa vụ tại ngày ghi nhận ban đầu

Giá trị hiện tại = 20.000 ÷ (1,08)³⁰ = 1.988 triệu đồng.

Bước 2 – Xác định nguyên giá tài sản

Nguyên giá PPE ghi nhận ban đầu = 100.000 (chi phí xây dựng) + 1.988 (cấu phần nghĩa vụ tháo dỡ) = 101.988.

Bước 3 – Khấu hao hằng năm.

Khấu hao năm = 101.988 ÷ 30 = 3.400, trong đó phần thuộc cấu phần nghĩa vụ tháo dỡ là 1.988 ÷ 30 = 66.

Bước 4 – Bảng dỡ bỏ chiết khấu

NămSố dư đầu kỳ dự phòngChi phí tài chính (8%)
(= Số dư đầu kỳ × 8%)
Số dư cuối kỳ dự phòng
20X11.9881592.147
20X22.1471722.318
20X32.3181852.504
20X42.5042002.704
20X52.7042162.920
……………………
Năm thứ 2917.1471.37218.519
Năm thứ 3018.5191.48120.000

Các bút toán trong năm 20X1:

Ghi nhận ban đầu cấu phần nghĩa vụ (01/01/20X1):
Nợ PPE                                       101.988
Có Phải trả nhà cung cấp/Tiền    100.000
Có Dự phòng phải trả                  1.988

Khấu hao cả năm 20X1:
Nợ Chi phí khấu hao            3.400
Có Hao mòn lũy kế – PPE     3.400

Dỡ bỏ chiết khấu năm 20X1:
Nợ Chi phí tài chính           159
Có Dự phòng phải trả         159

Khi thay đổi ước tính – áp dụng IFRIC 1

Giả sử cuối năm 20X5, do cập nhật đơn giá nhân công và thiết bị tháo dỡ, Công ty A ước tính lại chi phí danh nghĩa phải trả tại năm thứ 30 tăng từ 20.000 lên 26.000. Giá trị hiện tại mới của nghĩa vụ (25 năm còn lại) = 26.000 ÷ (1,08)²⁵ = 3.796. Số dư dự phòng đang ghi nhận là 2.920. Phần chênh lệch 3.796 – 2.920 = 876 được cộng vào nguyên giá tài sản theo mô hình giá gốc (IFRIC 1.5):

Nợ PPE                          876
Có Dự phòng phải trả     876

Giá trị ghi sổ của PPE sau điều chỉnh = (101.988 – 3.400 x 5) + 876 = 85.866, được khấu hao trên 25 năm còn lại, tức mức khấu hao hàng năm từ 20X6 trở đi điều chỉnh thành 85.866/25 = 3.435 triệu đồng/năm.

Nếu doanh nghiệp áp dụng mô hình đánh giá lại: khoản tăng ước tính trên được ghi vào lãi/lỗ hoặc điều chỉnh giảm thặng dư đánh giá lại trước (nếu có số dư thặng dư đánh giá lại) (IFRIC 1.6).

Các điều chỉnh khi chuyển đổi từ VAS sang IFRS và thuế thu nhập hoãn lại

Giả sử Công ty A có ngày chuyển đổi sang IFRS là 01/01/20X6, tức sau 5 năm sử dụng nhà xưởng, và trước đó theo VAS chưa ghi nhận bất kỳ khoản dự phòng tháo dỡ nào. Để minh họa riêng cho bút toán chuyển đổi, ở đây sử dụng ước tính chi phí ban đầu 20.000 (giả sử không có thay đổi ước tính). Giả định lãi suất 8% cũng là ước tính tốt nhất về lãi suất chiết khấu lịch sử phù hợp trong toàn bộ giai đoạn 20X1–20X5.

IFRS 1 cho phép một cách đo lường đơn giản hóa để tránh phải dựng lại toàn bộ lịch sử điều chỉnh theo IFRIC 1 từ ngày phát sinh nghĩa vụ (IFRS 1.D21): doanh nghiệp đo lường khoản dự phòng tại ngày chuyển đổi theo IAS 37, sau đó chiết khấu ngược khoản dự phòng đó về thời điểm nghĩa vụ lần đầu phát sinh để ước tính số tiền đáng lẽ được vốn hóa vào nguyên giá, rồi tính khấu hao lũy kế trên cơ sở đó.

  1. Dự phòng phải trả tại 01/01/20X6 (25 năm còn lại) = 20.000 ÷ (1,08)²⁵ = 2.920.
  2. Chiết khấu ngược khoản dự phòng này về ngày phát sinh (01/01/20X1) = 2.920 ÷ (1,08)⁵ = 1.988. Đây là cấu phần nghĩa vụ đáng lẽ đã vốn hóa vào nguyên giá.
  3. Hao mòn lũy kế của cấu phần này sau 5 năm = 1.988 × 5 ÷ 30 = 332. Giá trị còn lại = 1.656.
  4. Ảnh hưởng đến lợi nhuận giữ lại = – 2.920 (ghi nhận nợ) + 1.656 (giá trị còn lại cấu phần tài sản) = – 1.264.

Con số điều chỉnh giảm lợi nhuận giữ lại 1.264 chính là tổng của hai phần: chi phí tài chính do dỡ bỏ chiết khấu lũy kế qua 5 năm (932 triệu đồng) và khấu hao lũy kế của cấu phần nghĩa vụ (332 triệu đồng).

Bút toán điều chỉnh chuyển đổi (tại ngày 01/01/20X6):
Nợ PPE                                 1.988
Nợ Lợi nhuận giữ lại             1.264
Có Hao mòn lũy kế – PPE     332
Có Dự phòng phải trả           2.920

Thuế thu nhập hoãn lại:

Giả sử Cơ quan thuế chỉ chấp nhận chi phí khi thực chi. Điều chỉnh trên tạo ra hai chênh lệch tạm thời. Khoản dự phòng phải trả 2.920 triệu đồng có giá trị ghi sổ lớn hơn cơ sở tính thuế bằng 0, tạo chênh lệch tạm thời được khấu trừ, hình thành tài sản thuế hoãn lại. Cấu phần nghĩa vụ trong nguyên giá tài sản (giá trị còn lại 1.656 triệu đồng) có giá trị ghi sổ lớn hơn cơ sở tính thuế bằng 0, tạo chênh lệch tạm thời chịu thuế, hình thành nợ thuế hoãn lại.

Với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giả định 20%:

  1. Tài sản thuế hoãn lại = 2.920 × 20% = 584.
  2. Nợ thuế hoãn lại phải trả = 1.656 × 20% = 331.

Việc ghi nhận đầy đủ tài sản thuế hoãn lại 584 giả định rằng doanh nghiệp dự kiến có đủ lợi nhuận tính thuế trong tương lai để sử dụng khoản khấu trừ khi nghĩa vụ được thanh toán.

Bút toán thuế hoãn lại điều chỉnh chuyển đổi (tại ngày 01/01/20X6):
Nợ Tài sản thuế hoãn lại         584
Có Nợ thuế hoãn lại                331
Có Lợi nhuận giữ lại                253

Sau khi tính thuế hoãn lại, ảnh hưởng thuần đến lợi nhuận giữ lại tại ngày chuyển đổi của riêng điều chỉnh này là − 1.264 + 253 = − 1.011 triệu đồng.

Lỗi thường gặp và vướng mắc khi triển khai tại Việt Nam

Lấy giá trị danh nghĩa tương lai làm dự phòng. Ghi ngay 20.000 làm dự phòng thay vì giá trị hiện tại 1.988 vừa sai về đo lường ban đầu, vừa làm mất khoản chi phí tài chính do dỡ bỏ chiết khấu mà lẽ ra phải phân bổ qua từng kỳ.

Nhầm nghĩa vụ phát sinh do lắp đặt với nghĩa vụ phát sinh do sản xuất. Với mỏ khai khoáng, bãi chôn lấp chất thải hoặc hồ chứa tro xỉ nhà máy nhiệt điện, một phần nghĩa vụ hoàn nguyên tăng dần theo khối lượng khai thác hoặc chôn lấp. Phần này không được cộng vào nguyên giá PPE mà ghi nhận vào chi phí sản xuất trong kỳ theo IAS 2 và IAS 37; chỉ phần nghĩa vụ hình thành ngay khi xây dựng ban đầu mới vốn hóa theo IAS 16.16(c). Ghi nhận lẫn hai phần này làm sai cả nguyên giá tài sản lẫn giá trị hàng tồn kho.

Chọn sai lãi suất chiết khấu và không cập nhật ước tính. Lãi suất chiết khấu phải là lãi suất trước thuế phản ánh rủi ro riêng của khoản nợ; dùng một lãi suất tùy tiện làm sai lệch cả dự phòng lẫn cấu phần vốn hóa. Ngoài ra, ước tính chi phí và lãi suất phải được rà soát và cập nhật qua các kỳ theo IFRIC 1; bỏ qua bước này khiến số dư dự phòng lệch dần khỏi thực tế.

Đánh đồng khoản ký quỹ cải tạo môi trường với dự phòng nghĩa vụ. Pháp luật môi trường Việt Nam yêu cầu một số doanh nghiệp ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Khoản ký quỹ này là một khoản tiền doanh nghiệp gửi đi và có quyền thu hồi, bản chất là tài sản. Nghĩa vụ tháo dỡ, hoàn nguyên là một khoản nợ phải trả. Hai khoản này được trình bày riêng, không bù trừ cho nhau; gộp chung làm sai lệch cả tài sản lẫn nợ trên bảng cân đối kế toán.

Một số câu hỏi thường gặp

Thông tư 99 có bắt buộc ước tính và trích lập dự phòng cho nghĩa vụ này không?

Thông tư 99 cho phép trích lập dự phòng hoàn nguyên môi trường, thu dọn, khôi phục và hoàn trả mặt bằng trên Tài khoản 352, xác định theo VAS 18, và đối với hợp đồng thuê có điều khoản khôi phục hiện trạng thì doanh nghiệp được phép trích trước. Tuy nhiên khoản dự phòng ghi vào chi phí, khác với IFRS là bắt buộc vốn hóa vào nguyên giá tài sản và chiết khấu.

Tại Việt Nam, việc xác định lãi suất chiết khấu cho nghĩa vụ tháo dỡ, di dời và khôi phục hiện trạng được thực hiện như thế nào?

IAS 37 yêu cầu lãi suất trước thuế phản ánh giá trị thời gian của tiền và rủi ro riêng của khoản nợ. Thực hành phổ biến là xây dựng từ lãi suất phi rủi ro tham chiếu lợi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam có kỳ hạn tương đương thời gian còn lại của nghĩa vụ, điều chỉnh cho các rủi ro riêng của khoản dự phòng. Đây là một ước tính cần xét đoán chuyên môn và cần được thuyết minh rõ giả định.

Việc xác định phạm vi nghĩa vụ, ước tính chi phí tương lai, lựa chọn lãi suất chiết khấu và xử lý thuế hoãn lại đều đòi hỏi xét đoán và dữ liệu đặc thù của từng doanh nghiệp. Đội ngũ tư vấn chuyển đổi IFRS của chúng tôi có thể hỗ trợ doanh nghiệp rà soát danh mục hợp đồng thuê và tài sản có nghĩa vụ hoàn trả, xây dựng mô hình tính toán và chuẩn bị bút toán chuyển đổi phù hợp.

 

Bài viết được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin và hướng dẫn kỹ thuật chung, không cấu thành ý kiến tư vấn kế toán, kiểm toán, thuế hay pháp lý cho bất kỳ giao dịch hoặc đơn vị cụ thể nào. Các số liệu, giả định và bút toán trong bài chỉ mang tính minh họa và cần được điều chỉnh theo tình hình thực tế, xét đoán chuyên môn và hồ sơ của từng doanh nghiệp. Chúng tôi không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất nào phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bài viết khi chưa có tư vấn chuyên môn phù hợp. Để được hỗ trợ cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ đội ngũ tư vấn chuyển đổi IFRS của chúng tôi.

Facebook
Twitter
LinkedIn
Picture of Crowe Vietnam Team

Crowe Vietnam Team

Nội dung được biên soạn bởi đội ngũ chuyên gia của Crowe Vietnam, nhằm mang đến những thông tin giá trị và thiết thực cho doanh nghiệp.

Ấn phẩm liên quan

Lên đầu trang

Đăng ký tư vấn