Xác định giá giao dịch liên kết
Crowe Vietnam tổng hợp các quy định liên quan và câu hỏi thường gặp về xác định giá giao dịch liên kết, giúp bạn cập nhật những thông tin, thay đổi mới nhất và thực hiện nghĩa vụ thuế một cách chính xác.
1. Nghị định 20/2025/NĐ-CP ngày 10/02/2025, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với Doanh nghiệp có Giao dịch liên kết.
>> Xem và tải Nghị định 20/2025/NĐ-CP
2. Thông tư 45/2021/TT-BTC ngày 18/06/2021, hướng dẫn việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
>> Xem và tải Thông tư 45/2021/TT-BTC
3. Nghị định 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020, quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020.
>> Xem và tải Nghị định 132/2020/NĐ-CP
4. Nghị định 68/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Nghị định 20/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 của chính phủ quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 132/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
5. Nghị định 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017, quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2017 và hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 132/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
***Xin click vào từng câu hỏi bên dưới để xem nội dung chi tiết
1. Xác định giá giao dịch liên kết (cho mục đích xác định nghĩa vụ thuế) là gì? Chuyển giá là gì? Chuyển giá có vi phạm pháp luật? Các trường hợp cụ thể?
1. Xác định giá giao dịch liên kết (cho mục đích xác định nghĩa vụ thuế) là gì?
Doanh nghiệp có các giao dịch với các bên không có quan hệ liên kết (hay còn gọi là bên độc lập) và các giao dịch với các bên liên kết (hay còn gọi là giao dịch liên kết) (Xem định nghĩa về các loại giao dịch này trong Điều 5, Nghị định 132/2020/NĐ-CP).
Do đặc thù của các giao dịch với các bên liên kết, doanh nghiệp có thể tự lựa chọn mức giá giao dịch vì vậy các doanh nghiệp sẽ có xu hướng lựa chọn mức giá mà họ cho là sẽ giúp họ tối thiểu hóa số thuế phải nộp của tất cả các bên liên kết nhờ vào sự chênh lệch mức thuế suất của các bên liên kết.
Vì vấn đề này, để không bị xói mòn thuế, các quy định thuế thường sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện kê khai các giao dịch liên kết theo mẫu quy định và loại trừ các yếu tố làm giảm nghĩa vụ thuế do quan hệ liên kết chi phối, tác động để xác định nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch liên kết tương đương với các giao dịch độc lập có cùng điều kiện. Nói theo cách khác, doanh nghiệp phải xác định giá của các giao dịch liên kết theo hướng tương đương với các giao dịch độc lập có cùng điều kiện, sau đó lấy đó làm cơ sở thực hiện các điều chỉnh phù hợp (nếu có các chênh lệch) đối với mức giá được thể hiện trên các chứng từ giao dịch chính thức để tính thuế. Nếu doanh nghiệp chứng minh được mức giá giao dịch nằm trong phạm vi của mức giá của các giao dịch độc lập thì sẽ không có điều chỉnh gì thêm, do đó không làm phát sinh thêm số thuế phải nộp. Vì vậy, các doanh nghiệp thường sẽ cố gắng xây dựng hồ sơ và chính sách giá với các bên liên kết sao cho tối ưu nghĩa vụ thuế nhất trong khi vẫn chứng minh được sự tương đương với các giao dịch độc lập để không bị rơi vào tình huống phát sinh các khoản tiền phạt và tiền thuế phát sinh thêm ngoài dự tính.
Mặc dù có các quy định như trên, trong nhiều trường hợp trên thực tế cả doanh nghiệp và cơ quan thuế cũng không dễ dàng thống nhất được quan điểm về mức giá giao dịch độc lập tương đương do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và điều kiện liên quan. Cả hai bên đều cố gắng tối đa bảo vệ lợi ích của mình.
Lưu ý:
- Các phương pháp so sánh xác định giá của giao dịch liên kết được trình bày trong Điều 13,14,15 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP.
- Nghĩa vụ thuế liên quan đến giao dịch liên kết, hiện nay, mới chỉ bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp. Các quy định liên quan chưa đề cập đến các loại thuế khác.
2. Chuyển giá là gì? Chuyển giá có vi phạm pháp luật?
“Chuyển giá” không được định nghĩa rõ ràng trong các quy định liên quan, tuy nhiên, căn cứ vào các ngữ cảnh liên quan thì “chuyển giá” được hiểu là hành vi cố tình không kê khai hoặc kê khai giá của các giao dịch liên kết theo hướng không tương đương với giao dịch độc lập để trốn, tránh thuế.
Với cách hiểu như trên thì “chuyển giá” là hành vi vi phạm pháp luật thuế, và do đó nếu bị phát hiện sẽ phải chịu mức thuế theo hình thức ấn định thuế bởi cơ quan thuế (Xem điều 20 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP).
3. Những cách thức chuyển giá phổ biến?
- Nâng giá tài sản cố định khi góp vốn đầu tư : Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào doanh nghiệp trong nước (doanh nghiệp FDI) bằng máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu hoặc đã khấu hao hết nhưng được đẩy giá lên cao hơn nhiều so với giá trị thực. Bằng việc tính giá tài sản cố định cao hơn thực tế, nhà đầu tư nước ngoài đã nâng khống số vốn góp, gây thất thu cho ngân sách; đồng thời số khấu hao tài sản cố định tăng lên tương ứng làm tăng giá thành sản phẩm dẫn đến giảm lãi hoặc bị lỗ, do đó doanh nghiệp chỉ cần nộp ít hoặc không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”) ở Việt Nam.
- Nâng giá nguyên vật liệu nhập khẩu: Doanh nghiệp FDI nhập mua nguyên vật liệu từ các bên có quan hệ liên kết với mức giá cao hơn mức giá thị trường, làm tăng chi phí đầu vào sản xuất, từ đó làm giảm lãi hoặc bị lỗ.
- Nhận chuyển giao tài sản vô hình/ dịch vụ: Nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào các công ty con thường chuyển giao một số tài sản vô hình/ cung cấp một số dịch vụ như: chuyển giao công nghệ, bí quyết kỹ thuật, bản quyền, cung cấp dịch vụ quản lý chung, hỗ trợ mua hàng, kiểm định chất lượng, hỗ trợ công nghệ thông tin…Doanh nghiệp FDI có thể thực hiện chuyển giá thông qua việc định giá cao cho các tài sản vô hình được chuyển giao/ dịch vụ được cung cấp.
- Nhận khoản vay với lãi suất cao: Một hình thức phổ biến khác là doanh nghiệp FDI nhận khoản vay từ các bên có quan hệ liên kết với lãi suất vay vượt quá quy định thông thường.
- Giảm giá bán hàng hóa: Doanh nghiệp FDI cũng có thể chuyển giá thông qua việc áp dụng giá bán hàng hóa cho các bên có quan hệ liên kết với mức thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết, từ đó làm giảm lợi nhuận và giảm thuế tương ứng.
- Chuyển lợi nhuận ngược (từ nước ngoài vào Việt Nam) của một bộ phận doanh nghiệp FDI trong nước được hưởng ưu đãi lớn về thuế suất thuế TNDN và thời gian miễn, giảm thuế TNDN;
- Chuyển giá giữa các doanh nghiệp trong nước có quan hệ liên kết và được hưởng các mức ưu đãi thuế TNDN khác nhau.
4. Những trường hợp chuyển giá điển hình?
Adidas
Adidas AG là một công ty đa quốc gia được thành lập vào năm 1948 tại Đức, hoạt động trong lĩnh vực thiết kế và sản xuất dụng cụ thể thao.
Các sản phẩm của Adidas đã đến Việt Nam rất sớm từ năm 1993 và đến năm 2009 thì một công ty con của Adidas mới được thành lập ở Việt Nam.
Nhiều lập luận cho rằng Adidas Việt Nam đăng ký hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trong vai trò là nhà phân phối bán buôn nhưng thực tế lại phát sinh chi phí của nhà bán lẻ, và đặt nghi vấn đây chính là cách mà Adidas dùng để chuyển giá theo phương thức liên kết giữa công ty mẹ và các công ty con thuộc tập đoàn Adidas nhằm né thuế thu nhập tại Việt Nam.
Cụ thể, theo lãnh đạo của Cục thuế TP.HCM, Adidas Việt Nam hoạt động theo giấy phép đăng ký kinh doanh là quyền phân phối bán buôn, nhưng danh mục chi phí của doanh nghiệp này lại xuất hiện nhiều chi phí của một doanh nghiệp bán lẻ, như chi phí hỗ trợ vật dụng cho nhà bán lẻ, tiền tiếp thị quốc tế, phí quản lý vùng, tiền hoa hồng mua hàng và đặc biệt, Adidas Việt Nam không phải là nhà sản xuất, nhưng phát sinh khoản tiền bản quyền.
Thực tế, Adidas Việt Nam thanh toán cho Công ty Adidas AG phí bản quyền 6%, chi phí tiếp thị quốc tế 4% doanh thu ròng đối với các sản phẩm được tiêu thụ và cả giá trị sản phẩm được cấp phép.
Ngoài ra, Adidas Việt Nam cũng phải trả chi phí hoa hồng mua hàng cho Adidas International Trading B.V, với tỷ lệ 8,25% giá trị mỗi giao dịch.
Bên cạnh đó, theo hợp đồng dịch vụ Đông Nam Á giữa Adidas Singapore và Adidas Việt Nam, Adidas Singapore và các công ty con địa phương, trong đó có Adidas Việt Nam cung cấp một dịch vụ và thỏa thuận việc thu các khoản phí liên quan.
Chính vì phát sinh quá nhiều chi phí trung gian đầu vào đã khiến cho giá thành nhập khẩu các sản phẩm Adidas tại thị trường Việt Nam bị đội lên một cách vô lý, làm cho Adidas Việt Nam luôn rơi vào tình trạng thua lỗ và không phải nộp thuế thu nhập.
Metro Việt Nam
Metro Việt Nam bắt đầu kinh doanh ở Việt Nam từ đầu năm 2002 với số vốn ban đầu là 120 triệu USD, trong đó vốn pháp định là 36 triệu USD.
Sau khoảng 12 năm hoạt động, 2002-2013, Metro Việt Nam đã 6 lần thay đổi giấy phép kinh doanh, nâng tổng vốn đầu tư tại Metro Việt Nam lên hơn 301 triệu USD vào tháng 5/2013.
Điều đáng lưu ý là trong giai đoạn này, Metro Việt Nam liên tục kê khai lỗ với số lỗ lũy kế lên đến 1.657 tỉ USD và chỉ duy nhất năm 2010 là có lãi 173 tỉ đồng.
Mặc dù lỗ nhưng Metro Việt Nam vẫn tiếp tục mở thêm 19 điểm bán lẻ trên toàn quốc. Từ kết quả này, cơ quan thanh tra thuế đã vào cuộc và xác định có hành vi chuyển giá, qua đó yêu cầu Metro Việt Nam điều chỉnh giảm lỗ, giảm khấu trừ và truy thu thuế với số tiền lên đến hơn 500 tỉ đồng, đồng thời xác định Metro Việt Nam đã có lãi trong 2 năm 2010 và 2011 với số tiền 234,8 tỉ đồng.
Trong số này, khoản điều chỉnh giảm lỗ lớn nhất liên quan đến phí nhượng quyền thương mại, các khoản chi phí không liên quan đến hoạt động kinh doanh của Metro Việt Nam, chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho, chi phí trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, … với số tiền lên đến 335 tỉ đồng.
Khoản điều chỉnh thuế nhà thầu đối với các khoản chi phí bồi hoàn tiền lương trả cho Metro Cash & Carry Đức để trả cho các nhân viên nước ngoài làm việc tại Metro Việt Nam khoảng 62 tỉ đồng; điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào đối với khoản tiền thu hỗ trợ quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại từ các nhà cung cấp lên đến 110 tỉ đồng.
Do những khoản chi phí quá lớn và bất hợp lý được hạch toán vào chi phí của Metro Việt Nam, trong đó đáng kể nhất là chi phí nhượng quyền thương mại, đã khiến cho công ty này liên tục báo lỗ trong hàng chục năm.
Theo số liệu của Tổng cục Thuế, trong giai đoạn 2002 – 2013, chi phí nhượng quyền thương mại mà Metro Việt Nam phải trả cho công ty mẹ ở Đức đã lên tới 731 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, chi phí lương, thưởng và phụ cấp cho ban giám đốc và chuyên gia nước ngoài trả cho các cá nhân thông qua Metro Cash & Cary GmbH (MCC) tại Đức cũng là một con số rất lớn, lên tới 699 tỉ đồng.
Theo Tổng cục Thuế, đây là những giao dịch liên kết để Metro Việt Nam chuyển giá.
Keangnam
Công ty Keangnam Vina là một công ty bất động sản 100% vốn của Hàn Quốc. Vào Việt Nam từ tháng 7/2007, Keangnam Vina ký hợp đồng chìa khóa trao tay với Công ty Keangnam Enterprise – một công ty con thuộc tập đoàn Keangnam Hàn Quốc, làm tổng thầu EPC.
Tổng giá trị của hợp đồng lên đến 871 triệu USD. Vai trò của Keangnam Enterprise không chỉ khảo sát, thiết kế, cung cấp thiết bị máy móc, thi công xây dựng dự án mà còn cung cấp cả dịch vụ tư vấn tài chính, dàn xếp vốn vay cho Keangnam Vina.
Năm 2008, khoản phí tư vấn tài chính mà Keangnam Vina trả cho Keangnam Enterprise lên tới 30 triệu USD, phí dịch vụ sắp xếp nguồn vay lên tới 20 triệu USD, chi phí tư vấn quảng cáo, tư vấn cấp quyền sử dụng đất, cấp giấy phép đầu tư cũng lên đến vài triệu USD.
Do những khoản chi phí đó, Keangnam Vina liên tục báo lỗ và do vậy không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Khoản lỗ này tất nhiên chuyển thành khoản lãi của Keangnam Enterprise ở Hàn Quốc. Trong khi đó, Keangnam Enterprise chỉ phải nộp thuế nhà thầu cho Việt Nam với mức thuế suất thấp hơn nhiều so với thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam.
Tình hình hoạt động của Keangnam Vina sau 5 năm cho thấy công ty này luôn khai báo lỗ. Theo số liệu của cơ quan thuế, tính đến thời điểm 2011 khi tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark bắt đầu vận hành, doanh thu của công ty đạt trên 5.200 tỉ đồng nhưng công ty lại khai báo lỗ lên đến 140 tỉ đồng.
Từ thực trạng này, cơ quan thuế Việt Nam đã vào cuộc thanh tra và xác định hành vi chuyển giá của Keangnam Vina.
Sau thanh tra, cơ quan thuế đã yêu cầu loại trừ tất cả những khoản chi phí đầu vào bất hợp lý. Rất nhiều khoản giá vốn xây dựng bị dàn xếp bất hợp lý đã bị buộc phải điều chỉnh lại. Vì vậy, tổng giá trị hợp đồng EPC từ mức 871 triệu USD đã giảm chỉ còn 699 triệu USD.
Kết quả thanh tra buộc Keangnam Vina phải thừa nhận hành vi chuyển giá và phải điều chỉnh giá lên đến 1.220 tỉ đồng. Không những vậy, Keangnam Vina còn bị truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp lên đến 95,2 tỉ đồng do điều chỉnh lại lợi nhuận của giai đoạn 2007-2011.
Starbucks
Tập đoàn Starbucks (Anh) đã thông qua các hợp đồng vay với với lãi suất cao và tiền bản quyền cao để chuyển lợi nhuận về một công ty liên kết ở Hà Lan. Ở Anh, Starbucks liên tục mở rộng và phát triển nhanh hệ thống các cửa hàng, đến 2012 Starbucks Anh có hơn 700 cửa hàng ở khắp nơi trên quốc đảo này và tổng doanh thu lũy kế sau 14 năm kinh doanh ở Anh lên đến hơn 3 tỷ Bảng Anh (4,8 tỷ USD). Tuy nhiên nhờ thực hiện chuyển giá, thường xuyên báo lỗ nên tổng số tiền thuế công ty đã nộp trong 14 năm chỉ có 8,6 triệu Bảng Anh (13,7 triệu USD). Theo BBC News, với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Anh là 28%, đáng lẽ Chính phủ Anh có thể thu được một khoản tiền thuế từ Starbucks vào khoảng 840 triệu Bảng Anh, nhưng thực tế chỉ thu được hơn 1% của khoản tiền đó.
e.Bay
Một trường hợp điện hình khác về chuyển giá ở Anh là Tập đoàn e.Bay. Tập đoàn có doanh thu năm 2010 là 789 triệu Bảng Anh, ước tính lợi nhuận khoảng 181 triệu Bảng Anh. Cũng theo BBC News, với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Anh là 28% thì e.Bay phải nộp khoảng 51 triệu Bảng Anh tiền thuế. Tuy nhiên, e.Bay đã thực hiện các thủ thuật chuyển giá để giảm lợi nhuận xuống còn 4,3 triệu Bảng nên chỉ phải nộp khoảng 1,2 triệu bảng tiền thuế trong năm 2010. Nếu so với lợi nhuận thực tế thì e.Bay chỉ đóng thuế bằng 0,66% lợi nhuận, một tỷ lệ rất thấp so với thuế thu nhập doanh nghiệp của Anh. Song, cơ quan thuế của Anh buộc phải chấp nhận vì các hoạt động định giá, hạch toán kinh doanh, nộp thuế của e.Bay đều được xem là “tuân thủ đầy đủ các quy định về thuế”.
Facebook đang phải đối mặt với một vụ kiện từ Internal Revenue Service (IRS). Vụ kiện đã được đưa ra xét xử tại tòa án ở San Francisco và mấu chốt của vụ kiện là một thỏa thuận vào năm 2010 giữa Facebook và một công ty con đặt tại Ireland. IRS cáo buộc Facebook cố tình đánh giá thấp tài sản trí tuệ mà họ đã bán cho công ty con của mình, qua đó trốn hàng tỷ đô la tiền thuế.
Trước khi công bố ra công chúng, Facebook định giá tài sản là 6,5 tỷ USD nhưng theo IRS tài sản có giá trị lên đến 21 tỷ USD. Nếu IRS thắng trong vụ kiện tại tòa án thì ước tính Facebook sẽ phải nộp thêm tiền thuế cùng tiền lãi chậm nộp cũng như phạt lên đến 9 tỷ USD.
Ireland có mức thuế doanh nghiệp thấp hơn Mỹ, do đó, động thái này giúp làm giảm tiền thuế của công ty hoạt động đa quốc gia. Ngoài Facebook, nhiều ông lớn công nghệ khác bao gồm Google, Amazon cũng lựa chọn Ireland làm “thiên đường trốn thuế”. Bằng cách bán quyền sở hữu trí tuệ cho chi nhánh “con rối” ở nước ngoài, các công ty công nghệ tìm cách chuyển lợi nhuận tới những quốc gia có mức thuế cực thấp như Ireland.
2. Doanh nghiệp phải tuân thủ những gì liên quan đến các quy định về giao dịch liên kết? Các trường hợp được miễn trừ? Những khó khăn của doanh nghiệp tại Việt Nam trong việc tuân thủ các quy định về chuyển giá hiện nay?
Doanh nghiệp phải tuân thủ những gì liên quan đến các giao dịch liên kết phát sinh trong kỳ?
Các yêu cầu tuân thủ đối với doanh nghiệp có ghi nhận giao dịch liên kết được tổng hợp dưới đây. Đối với giai đoạn từ 2010 – 2016, các yêu cầu tuân thủ được quy định tại Thông tư 66/2020/TT-BTC (“Thông tư 66”).
Từ năm 2017, các doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP (“Nghị định 20”) và Thông tư 41/2017/TT-BTC (“Thông tư 41”).
Tháng 11 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 132/2020/NĐ-CP (“Nghị định 132”) thay thế Nghị định 20 về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Nghị định 132 có hiệu lực từ ngày 20/12/2020. Theo đó, kể từ năm 2020, các yêu cầu tuân thủ sẽ được thực hiện theo yêu cầu của tại Nghị định 132.
| Nội dung tuân thủ | Nghị định 132 | Nghị định 20 và Thông tư 41 | Thông tư 66 |
|---|---|---|---|
| Giai đoạn áp dụng | Kể từ năm 2020 trở đi | 2017 – 2019 | 2010 – 2016 |
| Tờ khai thông tin giao dịch liên kết | Doanh nghiệp cần chuẩn bị 03 tờ khai liên quan đến giao dịch liên kết, bao gồm: • Mẫu số 01: Thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết • Mẫu số 02: Danh mục các thông tin, tài liệu cần cung cấp tại Hồ sơ quốc gia • Mẫu số 03: Danh mục các thông tin, tài liệu cần cung cấp tại Hồ sơ toàn cầu | Doanh nghiệp cần chuẩn bị 04 tờ khai liên quan đến giao dịch liên kết, bao gồm: • Mẫu số 01: Thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết • Mẫu số 02: Danh mục các thông tin, tài liệu cần cung cấp tại Hồ sơ quốc gia • Mẫu số 03: Danh mục các thông tin, tài liệu cần cung cấp tại Hồ sơ toàn cầu • Mẫu số 04(*): Kê khai thông tin Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (*) Riêng Mẫu số 04 chỉ áp dụng cho công ty mẹ tối cao tại Việt Nam, có doanh thu hợp nhất trên 18.000 tỷ đồng và hoạt động nhiều quốc gia. | Doanh nghiệp cần chuẩn bị Mẫu GCN-01/QLT. Cho giai đoạn 2013 – 2016, Doanh nghiệp cần chuẩn bị Mẫu 03-7/TNDN (theo quy định tại Thông tư 156/2013/TT-BTC) thay thế cho Mẫu GCN-01/QLT. |
| Thời hạn nộp tờ khai thông tin giao dịch liên kết | Nộp cùng tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”) (chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3, kể từ ngày kết thúc năm tài chính). | Nộp cùng tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”) (chậm nhất là ngày thứ 90, kể từ ngày kết thúc năm tài chính). | |
| Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết | Người nộp thuế có trách nhiệm lưu giữ và cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết là các thông tin, tài liệu, số liệu, chứng từ gồm: • Thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết theo Mẫu số 01; • Hồ sơ quốc gia – chuẩn bị theo yêu cầu tại Mẫu số 02 • Hồ sơ toàn cầu – chuẩn bị theo yêu cầu tại Mẫu số 03 • Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (“CbCR”)(**) (**) Đối với công ty mẹ tối cao tại Việt Nam, nếu có doanh thu hợp nhất toàn tập đoàn trong năm trên 18.000 tỷ VND, phải chuẩn bị CbCR với thời hạn nộp là 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của công ty mẹ tối cao. Đối với công ty con, nếu công ty mẹ tối cao phải lập CbCR, công ty con phải cung cấp CbCR cho cơ quan thuế, trừ trường hợp sau. Trường hợp công ty mẹ tối cao (hoặc tổ chức mà công ty mẹ chỉ định nộp thay CbCR) thành lập ở quốc gia đã có thỏa thuận quốc tế về thuế với Việt Nam, đã ký kết thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam và có cơ chế trao đổi thông tin tự động, cơ quan thuế sẽ thực hiện trao đổi thông tin tự động với cơ quan thuế nước ngoài. Ngoài ra, nếu có nhiều công ty con cùng ở Việt Nam, có thể chỉ định một người nộp thuế là đại diện nộp CbCR cho cơ quan thuế. Đối với công ty con mà công ty mẹ tối cao không phải lập CbCR thì thực hiện theo điều ước quốc tế. | Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được lập trước thời điểm kê khai quyết toán thuế TNDN hàng năm và phải lưu giữ, xuất trình theo yêu cần cung cấp thông tin của Cơ quan thuế. Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết bao gồm: • Hồ sơ quốc gia – chuẩn bị theo yêu cầu tại Mẫu số 02 • Hồ sơ toàn cầu – chuẩn bị theo yêu cầu tại Mẫu số 03 • Bản sao báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của Công ty mẹ tối cao (***) (***) Trong trường hợp Công ty mẹ tối cao không phải chuẩn bị báo cáo lợi nhuận liên quốc gia theo quy định tại nước sở tại; Công ty tại Việt Nam chuẩn bị công văn giải trình nêu rõ nguyên nhân. | Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết với các nội dung được quy định tại Điều 7, Thông tư 66. |
| Thời hạn cung cấp Hồ sơ cho cơ quan thuế | • Trong thanh tra: không quy định rõ thời hạn; • Tham vấn trước thanh tra: 30 ngày làm việc; Gia hạn 1 lần 15 ngày làm việc. | • Trong thanh tra: 15 ngày làm việc; • Tham vấn trước thanh tra: 30 ngày làm việc; Gia hạn 1 lần 15 ngày làm việc. | Trong vòng 30 ngày làm việc; được gia hạn 1 lần không quá 30 ngày, kể từ ngày hết hạn. |
Các trường hợp được miễn trừ nghĩa vụ chuẩn bị tờ khai và hồ sơ xác định giá giao dich liên kết?
Nghị định 132 (và Nghị định 20 trước đây) cũng đưa ra một số trường hợp doanh nghiệp sẽ được miễn trừ nghĩa vụ chuẩn bị tờ khai thông tin giao dịch liên kết hoặc hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết. Cụ thể như sau.
Miễn kê khai xác định giá giao dịch liên kết tại mục III, mục IV Mẫu số 01 và miễn chuẩn bị Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết, phải thỏa mãn TẤT CẢ các điều kiện sau:
- Chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam;
- Áp dụng cùng mức thuế suất thuế TNDN với người nộp thuế và không bên nào được hưởng ưu đãi thuế TNDN trong kỳ tính thuế,
Ghi chú:
- Phải kê khai căn cứ miễn trừ tại mục I, mục II tại Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 20.
- Theo hướng dẫn tại một số công văn của các cục thuế, nếu thỏa mãn điều kiện miễn kê khai mục III, mục IV Mẫu số 01, doanh nghiệp đồng thời được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết.
Miễn Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết, phải thỏa mãn 01 TRONG 03 trường hợp:
- Có tổng doanh thu phát sinh của kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị tất cả các giao dịch liên kết phát sinh trong kỳ tính thuế dưới 30 tỷ đồng;
- Hoặc, đã ký kết Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (“APA”) và nộp Báo cáo thường niên theo quy định pháp luật về APA;
- Phân phối (từ 5%);
- Sản xuất (từ 10%);
- Gia công (từ 15%).Hoặc, có doanh thu dưới 200 tỷ đồng và thực hiện kinh doanh với chức năng đơn giản, cũng như đạt tỷ suất lợi nhuận thuần trước lãi vay và thuế TNDN trên doanh thu, bao gồm các lĩnh vực như sau:
Ghi chú :
- Phải kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo Mẫu số 01.
Những khó khăn của doanh nghiệp tại Việt Nam trong việc tuân thủ các quy định về chuyển giá hiện nay?
Thiếu các văn bản công văn hướng dẫn chi tiết:
So với các lĩnh vực thuế khác (Thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”), thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”), v.v.), hệ thống các quy định tuân thủ về chuyển giá khá đơn giản, bao gồm hai Nghị định và một Thông tư kể trên. Các văn bản công văn hướng dẫn về chuyển giá hiện cũng tương đối hạn chế so với các lĩnh vực khác và thường chỉ tập trung trả lời các vấn đề nguyên tắc.
Vì vậy, doanh nghiệp thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm hiểu và áp dụng các quy định về chuyển giá trong hoạt động của mình cũng như xác định và thực hiện các yêu cầu tuân thủ theo quy định pháp luật.
Một số khác biệt trong yêu cầu tuân thủ với thông lệ quốc tế:
Trong trường hợp người nộp thuế không thỏa mãn các điều kiện miễn giảm điều kiện tuân thủ quy định tại Nghị định 132, bên cạnh tờ khai thông tin giao dịch liên kết nộp kèm tờ khai quyết toán thuế hằng năm, người nộp thuế sẽ phải chuẩn bị Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết (“Hồ sơ giao dịch liên kết”) (bao gồm Hồ sơ toàn cầu (“HSTC”), Hồ sơ quốc gia (“HSQG”), và Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (“CbCR”)).
Nội dung của ba hồ sơ/báo cáo này theo quy định tại Nghị định 132 tương đồng với khuyến nghị của OECD trong các hành động BEPS. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số khác biệt, gây khó khăn cho người nộp thuế trong quá trình tuân thủ như sau:
| Tài liệu | Quy định tại Việt Nam | Thông lệ quốc tế |
|---|---|---|
| CbCR | • Nếu người nộp thuế là công ty mẹ tối cao tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong kỳ tính thuế từ 18.000 tỷ VND trở lên, người nộp thuế cần lập CbCR theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định 132. • Trong các trường hợp còn lại (không phải là công ty mẹ tối cao tại Việt Nam) người nộp thuế cần cung cấp cho cơ quan thuế CbCR, trừ trường hợp công ty mẹ tối cao (hoặc tổ chức mà công ty mẹ chỉ định nộp thay CbCR) thành lập ở quốc gia đã có thỏa thuận quốc tế về thuế với Việt Nam, đã ký kết thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam và có cơ chế trao đổi thông tin tự động, cơ quan thuế sẽ thực hiện trao đổi thông tin tự động với cơ quan thuế nước ngoài. . | • Người nộp thuế nếu là công ty mẹ tối cao và ghi nhận mức doanh thu hợp nhất toàn cầu lớn hơn mức tối thiểu (VD: Nhật Bản là 100 tỷ Yên; Hàn Quốc là 1 nghìn tỷ won, v.v.), thì người nộp thuế cần lập CbCR theo mẫu quy định. • Người nộp thuế nếu không phải là công ty mẹ tối cao thông thường chỉ cần thông báo tới cơ quan thuế, không cần phải lưu trữ và nộp bản sao CbCR của công ty mẹ tối cao theo yêu cầu của cơ quan thuế. |
| Hồ sơ toàn cầu | • Không có quy định trường hợp miễn trừ cụ thể. • Theo đó, người nộp thuế cần chuẩn bị HSTC trong cả trường hợp Tập đoàn không thuộc trường hợp phải chuẩn bị theo quy định tại nước ngoài. | • Áp dụng với các tập đoàn thỏa mãn một số điều kiện nhất định. Ví dụ: – Tại Nhật Bản áp dụng với các tập đoàn có doanh thu hợp nhất từ 100 tỷ Yên; – Tại Hàn Quốc áp dụng cho các tập đoàn có doanh thu hợp nhất từ 100 tỷ won và giá trị giao dịch liên kết liên quốc gia từ 50 tỷ won, v.v.). |
Thời hạn để chuẩn bị Hồ sơ xác định giao dịch liên kết:
Người nộp thuế có trách nhiệm lưu giữ và cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết khi được cơ quan thuế yêu cầu.
Doanh nghiệp sẽ phải cung cấp Hồ sơ cho cơ quan thuế kịp thời trong trường hợp thanh tra (không nêu rõ thời hạn); và 30 ngày làm việc, được gia hạn tối đa 15 ngày làm việc nếu có lí do chính đáng – trong trường hợp tham vấn trước thanh tra.
So sánh với các quốc gia khác trên thế giới, thời hạn chuẩn bị và nộp Hồ sơ giao dịch liên kết tại Việt Nam tương đối ngắn. Tại các quốc gia khác, thời hạn này thường từ 5 đến 12 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính.
Ví dụ:
- Tại Nhật Bản, người nộp thuế sẽ phải nộp HSQG cho cơ quan thuế trong thời hạn 45 ngày kể từ khi được yêu cầu, HSTC và CbCR sẽ được nộp qua hệ thống kê khai điện tử trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
- Tại Hàn Quốc, trong vòng 12 tháng, người nộp thuế cần phải nộp cả ba loại Hồ sơ giao dịch liên kết cho cơ quan thuế qua hệ thống kê khai điện tử.
Khác biệt trong thời hạn chuẩn bị Hồ sơ giao dịch liên có thể khiến người nộp thuế (đặc biệt là các doanh nghiệp FDI) gặp các khó khăn trong việc liên hệ với tập đoàn, công ty mẹ tối cao để có được các tài liệu HSTC, CbCR. Trong trường hợp tập đoàn, công ty mẹ không thể kịp thời chuẩn bị các tài liệu này theo thời hạn tuân thủ tại Việt Nam, doanh nghiệp tại Việt Nam có thể phải cân nhắc tự chuẩn bị các tài liệu này từ đó phát sinh thêm thời gian và chi phí.
3. Nếu vi phạm các quy định thuế liên quan đến giao dịch liên kết thì doanh nghiệp sẽ phải chịu các chế tài và tổn thất như thế nào? Doanh nghiệp nên làm gì khi được thông báo là cơ quan thuế sẽ thực hiện thanh tra về giao dịch liên kết, đánh giá tính tuân thủ và phát hiện các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp (nếu có)? Nếu có tranh chấp với cơ quan thuế về cách hiểu và áp dụng quy định liên quan đến giao dịch liên kết thì doanh nghiệp nên làm như thế nào?
Nếu vi phạm các quy định thuế liên quan đến giao dịch liên kết thì doanh nghiệp sẽ có thể chịu các chế tài như thế nào?
Mục 3, điều 12 của Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định như sau:
“Cơ quan thuế có quyền ấn định mức giá; tỷ suất lợi nhuận; tỷ lệ phân bổ lợi nhuận được sử dụng để kê khai tính thuế, ấn định thu nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết trong kỳ tính thuế căn cứ các thông tin, dữ liệu và phân tích đánh giá của Cơ quan thuế, trong các trường hợp người nộp thuế có các hành vi vi phạm pháp luật về xác định giá giao dịch liên kết sau:
a) Người nộp thuế không kê khai, kê khai không đầy đủ thông tin hoặc không nộp Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Người nộp thuế cung cấp không đầy đủ thông tin Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết quy định tại Mẫu số 02, Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này hoặc không xuất trình Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết và các dữ liệu, chứng từ và tài liệu được sử dụng làm căn cứ phân tích so sánh, xác định giá tại Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo yêu cầu của Cơ quan thuế trong thời hạn theo quy định tại Nghị định này;
c) Người nộp thuế sử dụng các thông tin về giao dịch độc lập không trung thực, không đúng thực tế để phân tích so sánh, kê khai xác định giá giao dịch liên kết hoặc dựa vào các tài liệu, dữ liệu và chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ hoặc không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ để xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận áp dụng cho giao dịch liên kết;
d) Người nộp thuế có hành vi vi phạm các quy định về xác định giá giao dịch liên kết tại Điều 11 Nghị định này (về các trường hợp người nộp thuế được miễn kê khai, miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết)”
Tương tự, mục 3, điều 20 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định như sau:
“Cơ quan thuế có quyền ấn định mức giá; tỷ suất lợi nhuận; tỷ lệ phân bổ lợi nhuận; thu nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với người nộp thuế không tuân thủ quy định về kê khai, xác định giao dịch liên kết; không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin, dữ liệu kê khai xác định giá giao dịch liên kết trong các trường hợp sau:
a) Người nộp thuế không kê khai, kê khai không đầy đủ thông tin hoặc không nộp Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Người nộp thuế cung cấp không đầy đủ thông tin Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết quy định tại Phụ lục II, Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này hoặc không xuất trình Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết và các dữ liệu, chứng từ và tài liệu được sử dụng làm căn cứ phân tích, so sánh, xác định giá tại Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo yêu cầu của Cơ quan thuế trong thời hạn theo quy định tại Nghị định này. Thông tin tại Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được xác định là trọng yếu nếu thông tin này gây ảnh hưởng đến kết quả phân tích lựa chọn đối tượng so sánh độc lập tương đồng; phương pháp xác định giá giao dịch liên kết hoặc kết quả điều chỉnh mức giá, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ phân bổ lợi nhuận của người nộp thuế;
c) Người nộp thuế sử dụng các thông tin về giao dịch độc lập không trung thực, không đúng thực tế để phân tích, so sánh, kê khai xác định giá giao dịch liên kết hoặc dựa vào các tài liệu, dữ liệu và chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ hoặc không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ để xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận áp dụng cho giao dịch liên kết;
d) Người nộp thuế có hành vi vi phạm các quy định về xác định giá giao dịch liên kết tại Điều 19 Nghị định này;
đ) Cơ sở dữ liệu sử dụng để ấn định thuế thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019.”
Trong trường hợp bị Cơ quan thuế ấn định, có thể dẫn tới việc doanh nghiệp bị truy thu thuế, giảm lỗ hoặc điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế.
Đồng thời, doanh nghiệp có thể sẽ phải chịu thêm các khoản phạt sau (theo luật quản lý thuế):
- Lãi chậm nộp: 0,03%/ ngày chậm nộp (hoặc 0,05%; 0,07%/ ngày chậm nộp, tùy từng giai đoạn);
- Kê khai thiếu: 20% số thuế kê khai thiếu;
- Gian lận thuế/ trốn thuế: từ một đến ba lần số thuế bị truy thu.
Cùng với các khoản phạt, doanh nghiệp cũng có thể bị ảnh hưởng về uy tín trên thị trường và bị đưa vào danh sách các doanh nghiệp có rủi ro cao về chuyển giá của Cơ quan thuế, dẫn đến các cuộc thanh tra/ kiểm tra thuế định kỳ hơn.
Doanh nghiệp nên làm gì khi được thông báo là cơ quan thuế sẽ thực hiện thanh tra về giao dịch liên kết, đánh giá tính tuân thủ và phát hiện các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp (nếu có)?
- Rà soát toàn bộ các tờ khai thuế liên quan, nhanh chóng bổ sung các tờ khai còn thiếu. Việc thiếu các tờ khai hoặc khai sai so với tài liệu sẽ là cơ sở để cơ quan thuế ấn định thuế.
- Rà soát toàn bộ sổ sách và chứng từ kế toán để bảo đảm chúng được lập và lưu trữ đầy đủ, chính xác và phù hợp với các quy định kế toán. Nếu sổ sách kế toán có nhiều sai phạm trọng yếu thì cũng là cơ sở để cơ quan thuế ấn định thuế.
- Thu thập toàn bộ các chứng từ, tài liệu, hồ sơ theo như yêu cầu trong Nghị định 20/2017/NĐ-CP và Nghị định 132/2020/NĐ-CP (từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020) để giúp giải trình số liệu và cung cấp cho cơ quan thuế khi được yêu cầu.
- Doanh nghiệp nên chuẩn bị sẵn các chiến lược giải trình đối với những nội dung quan trọng và phức tạp. Nên trao đổi với công ty mẹ (nếu có) để có được sự trợ giúp tối đa. Ngoài ra, nên tìm hiểu các doanh nghiệp tương tự đã được thanh tra trước đó để có thêm thông tin tham khảo.
- Nếu doanh nghiệp cảm thấy chưa thực sự tự tin hoàn toàn về những nội dung trên thì nên thuê công ty tư vấn chuyên nghiệp vào thực hiện kiểm tra độc lập để có các khuyến nghị hữu ích. Ngoài ra, đối với các khó khăn của doanh nghiệp khi chuẩn bị các tài liệu liên quan, các công ty tư vấn chuyên nghiệp có thể có sẵn những hiểu biết, kinh nghiệm, và nguồn lực phù hợp để giúp công ty xử lý phù hợp và kịp thời hạn trước khi cơ quan thuế vào. Doanh nghiệp có thể yêu cầu công ty tư vấn hỗ trợ giải trình các câu hỏi và lập luận của cơ quan thuế trong quá trình cơ quan thuế thực hiện thanh tra/kiểm tra tại doanh nghiệp.
Việc chuẩn bị tốt nhất trước khi cơ quan thuế vào kiểm tra sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu các tổn thất không đáng có do những thiếu sót cơ bản liên quan đến tính tuân thủ, và giúp doanh nghiệp tập trung vào những vấn đề thực sự quan trọng và phức tạp để đạt hiệu quả cao nhất khi giải trình và thuyết phục cơ quan thuế.
Nếu có tranh chấp với cơ quan thuế về cách hiểu và áp dụng quy định liên quan đến giao dịch liên kết thì doanh nghiệp nên làm như thế nào?
Do việc thanh tra/ kiểm tra thuế liên quan đến giao dịch liên kết có tính chất phức tạp nên nhiều khả năng là các cán bộ thuế sẽ có thể có những lập luận / kết luận không phù hợp với doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không chấp thuận thì cần phải có chiến lược phản hồi phù hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Dưới đây là một số khuyến nghị để doanh nghiệp tham khảo thêm:
- Đối với những vấn đề mà doanh nghiệp cho rằng cơ quan thuế đang hiểu sai hoặc chưa đầy đủ về hoạt động của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp cần cung cấp đầy đủ các tài liệu và giải trình liên quan để giúp cán bộ thuế hiểu đúng và đầy đủ.
- Đối với những vấn đề mà doanh nghiệp cho rằng cán bộ thuế đang hiểu chưa đúng tinh thần của quy định thuế thì doanh nghiệp nên viết công văn lên cơ quan thuế cấp trên để làm rõ (nếu sau khi giải trình trực tiếp mà vẫn không thuyết phục được).
- Đối với những vấn đề mà doanh nghiệp cho rằng nó phụ thuộc vào dữ liệu khách quan và không có đủ cơ sở để xác định rõ ràng cho lập luận của bên nào, thì doanh nghiệp nên đàm phán với cơ quan thuế để có giải pháp trung hòa tối ưu giữa hai bên.
- Nếu doanh nghiệp thấy rằng mình không có đủ nguồn lực để thực hiện các chiến lược trên thì nên thuê công ty tư vấn hỗ trợ. Các công ty tư vấn chuyên nghiệp thường sẽ có những kiến thức, kinh nghiệm, và nguồn lực phù hợp để xử lý tốt hơn những nội dung trên.
- Biện pháp cuối cùng là doanh nghiệp có thể kiện lên tòa án để được phân xử công khai (nếu vấn đề có ảnh hưởng thực sự trọng yếu đến tài chính và hoạt động của doanh nghiệp).





