Trong bối cảnh Việt Nam thu hút nhà đầu tư và lao động trình độ cao trong các ngành chiến lược mới như bán dẫn, AI, chuyển đổi số,… Chính phủ đã ban hành Nghị định 219/2025/NĐ-CP với nhiều điểm mới nhằm có những chính sách linh hoạt hơn, rút ngắn thời gian cấp giấy phép lao động so với các nghị định trước.
Có hiệu lực từ ngày 07/08/2025.
Các thay đổi quan trọng của Nghị định 219/2025/NĐ-CP (“Nghị định 219” hoặc “Nghị định”):
1. Thời gian cấp giấy phép lao động là 10 ngày
Theo Nghị định 219, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động (“GPLĐ”), cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp thuận nhu cầu và thực hiện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài.
2. Bổ sung trường hợp người lao động nước ngoài được xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ
Bổ sung trường hợp người lao động nước ngoài được các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận vào Việt Nam làm việc trong các lĩnh vực: tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội thuộc đối tượng không cần cấp phép lao động.
3. Sửa đổi Hồ sơ xin cấp/cấp lại/gia hạn GPLĐ
Nghị định sửa đổi theo hướng lồng ghép thủ tục báo cáo “giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài” vào thủ tục nộp hồ sơ đề nghị cấp/cấp lại/gia hạn GPLĐ.
Theo đó, phần giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài được trình bày trực tiếp vào mẫu đơn xin cấp/cấp lại/gia hạn GPLĐ (Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị Định).
4. UBND tỉnh là cơ quan cấp GPLĐ cho người nước ngoài từ 07/8/2025
Theo khoản 1 Điều 4 của Nghị định, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Quy trình liên thông cấp GPLĐ và Phiếu lý lịch tư pháp
Người sử dụng lao động có thể nộp đồng thời trực tuyến hồ sơ cấp GPLĐ và hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp (theo ủy quyền) qua Cổng Dịch vụ công quốc gia (“DVCQG”).
Quy trình liên thông được vận hành giữa Cổng DVCQG, cơ quan cấp GPLĐ (thuộc UBND tỉnh) và cơ quan công an cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Kết quả là GPLĐ và Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử sẽ được trả về đồng thời.
6. Người nước ngoài làm việc dưới 90 ngày/năm không thuộc diện cấp GPLĐ
Theo điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định 219, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có tổng thời gian làm việc dưới 90 ngày trong một năm (tính từ ngày 01/01 đến hết 31/12) không thuộc diện cấp GPLĐ.
7. Lưu ý về việc thông báo đối với trường hợp không cần giấy xác nhận miễn GPLĐ
Theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định 219, một số trường hợp miễn GPLĐ không cần làm thủ tục xin giấy xác nhận miễn GPLĐ, nhưng vẫn phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tại nơi người lao động dự kiến làm việc ít nhất 03 ngày làm việc trước khi bắt đầu, bao gồm:
- Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ.
- Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được.
- Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư.
… - Người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
- Chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên của công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên của công ty cổ phần.
… - Phóng viên nước ngoài hoạt động thông tin báo chí được Bộ Ngoại giao xác nhận.
… - Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam được phép làm việc tại Việt Nam theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
… - Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại.
… - Người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thuộc một trong các trường hợp sau: Vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 01 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm;
8. Mở rộng quyền sử dụng GPLĐ tại nhiều địa phương
Người lao động nước ngoài đã được cấp GPLĐ có thể làm việc tại nhiều tỉnh, thành phố. Trước mỗi lần di chuyển làm việc tại tỉnh/thành khác, doanh nghiệp phải thông báo trước ít nhất 03 ngày làm việc đến cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi người lao động dự kiến làm việc.
9. Bổ sung căn cứ xác định thời hạn GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ
Điểm 21 của Nghị định quy định thời hạn của GPLĐ, giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ được cấp theo thời hạn của một số giấy tờ như: hợp đồng lao động, văn bản cử đi công tác,hợp đồng hoặc thỏa thuận ký kết giữa đối tác Việt Nam và nước ngoài…nhưng tối đa không quá 02 năm.
10. GPLĐ chỉ được gia hạn một lần, tối đa 2 năm
Theo Điều 29 Nghị định 219, GPLĐ được gia hạn tối đa một lần duy nhất, với thời hạn không quá 02 năm.
11. Điều kiện cấp GPLĐ cho chuyên gia, lao động kỹ thuật
- Chuyên gia: Giảm yêu cầu số năm kinh nghiệm tối thiểu từ 3 năm xuống 2 năm (chỉ cần 1 năm nếu làm trong ngành ưu tiên) và có bằng cấp phù hợp.
- Lao động kỹ thuật: Giảm yêu cầu số năm kinh nghiệm tối thiểu từ 3 năm xuống 2 năm (nếu có chứng chỉ đào tạo ≥1 năm) và từ 5 năm xuống 3 năm (nếu không có chứng chỉ đào tạo).




