Câu hỏi thường gặp về Kiểm toán độc lập

Crowe Vietnam tổng hợp bộ câu hỏi thường gặp về lĩnh vực kiểm toán độc lập, cùng các câu trả lời từ những chuyên gia giàu kinh nghiệm của chúng tôi. Giúp bạn có được những thông tin hữu ích, đảm bảo tuân thủ chặt chẽ theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Quốc Tế.

***Xin click vào từng câu hỏi bên dưới để xem nội dung chi tiết

A. Tổng quan về kiểm toán độc lập

1. Kiểm toán độc lập là gì?

Điều 5, Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 trình bày về các khái niệm liên quan như sau:

“1.Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán.

Cụ thể các loại kiểm toán độc lập như sau:

9. Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.

10. Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện.

11. Kiểm toán hoạt động là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán.”

2. Đối tượng bắt buộc phải được kiểm toán độc lập? Báo cáo hợp nhất và báo cáo tổng hợp có bắt buộc phải kiểm toán?

Điều 15, Nghị định 17/2012/NĐ-CP quy định:

1. Doanh nghiệp, tổ chức mà pháp luật quy định báo cáo tài chính hàng năm phải được doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm toán, bao gồm:

a) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

b) Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam;

c) Tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

d) Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán.

2. Các doanh nghiệp, tổ chức khác bắt buộc phải kiểm toán theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Doanh nghiệp, tổ chức phải được doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm toán, bao gồm:

a) Doanh nghiệp nhà nước, trừ doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

b) Doanh nghiệp, tổ chức thực hiện dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước, trừ các dự án trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật phải được kiểm toán đối với báo cáo quyết toán dự án hoàn thành;

c) Doanh nghiệp, tổ chức mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

d) Doanh nghiệp mà các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên tại thời điểm cuối năm tài chính phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

đ) Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải được kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm.

4. Các doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này nếu theo quy định của pháp luật phải lập báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính tổng hợp thì phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính tổng hợp.

5. Việc kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán dự án hoàn thành đối với doanh nghiệp, tổ chức quy định tại các Điểm a và b Khoản 2 Điều này không thay thế cho việc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.

6. Doanh nghiệp, tổ chức khác tự nguyện được kiểm toán.

3. Kiểm toán độc lập có thể đem lại những lợi ích gì?

Đối với doanh nghiệp được kiểm toán độc lập:

Bên cạnh bảo đảm tính tuân thủ (đối với các đối tượng bắt buộc phải kiểm toán độc lập như trình bày ở trên), việc sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập còn đem lại các lợi ích quan trọng khác cho doanh nghiệp như sau:

  • Các báo cáo được gửi đi, nếu được kiểm toán độc lập, sẽ là một trong những công cụ hiệu quả trong việc tạo được sự tin cậy cao từ các ngân hàng, các quỹ đầu tư, nhà đầu tư, và đối tác kinh doanh về tính minh bạch của số liệu và hiệu quả của hoạt động trị doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong các giao dịch kinh tế và đàm phán kinh doanh. Những doanh nghiệp thực hiện kiểm toán độc lập hàng năm trong nhiều năm thường sẽ có độ tin cậy cao hơn các doanh nghiệp chỉ thực hiện kiểm toán khi được bên nào đó yêu cầu.
  • Dưới góc độ quản trị rủi ro, kiểm toán độc lập có thể được sử dụng như là một hàng rào bảo vệ của hệ thống quản trị rủi ro của doanh nghiệp, giúp góp phần giảm thiểu các rủi ro trọng yếu cho doanh nghiệp xuống mức chấp nhận được.
  • Dưới góc độ điều hành doanh nghiệp, việc hệ thống sổ sách kế toán và thuế được kiểm tra định kỳ hàng năm bởi một bên độc lập sẽ giúp củng cố và cải thiện hiệu quả hoạt động của bộ phận kế toán và thuế của doanh nghiệp. Kinh nghiệm làm việc nhiều doanh nghiệp khác nhau và ngành nghề khác nhau của kiểm toán độc lập sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thiện những thiếu sót của mình, cũng như có được những góc nhìn và quan điểm mới liên quan.

Đối với những bên sử dụng báo cáo đã được kiểm toán:

  • Báo cáo đã được kiểm toán độc lập sẽ giúp những bên liên quan có được mức độ tin cậy cao hơn về các dữ liệu và thông tin liên quan, do đó cảm thấy dễ dàng hơn trong việc đưa ra các quyết định.

Đối với nền kinh tế nói chung:

  • Kiểm toán độc lập giúp nâng cao mức độ tin cậy và minh bạch của thông tin và dữ liệu của các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tốc độ và số lượng giao dịch được thực hiện trong nền kinh tế. Nếu không có hoạt động kiểm toán độc lập hoặc chất lượng kiểm toán độc lập không được đảm bảo thì rủi ro xẩy các sai sót và gian lận trọng yếu trong các giao dịch kinh tế sẽ ở mức rất cao và niềm tin của các nhà đầu tư và thị trường sẽ ở mức rất thấp, do đó sẽ gây ra nhiều tổn thất cho các doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung.
  • Dưới góc độ vĩ mô, kiểm toán độc lập, với vai trò đưa ra ý kiến độc lập và các khuyến nghị liên quan, cũng góp phần tạo thêm sức ép cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế ngày càng hoàn thiện hệ thống quản trị doanh nghiệp tổng thể và hệ thống quản trị rủi ro nói riêng, theo đó đem lại nhiều lợi ích hơn cho các bên liên quan và thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế.

Phần trả lời của câu hỏi này được trình bày ở trang “Những quy định liên quan kiểm toán độc lập”. Chi tiết vui lòng xem tại đây.

Báo cáo kiểm toán độc lập được lập như thế nào?

Sau khi thực hiện xong các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên sẽ phải lập báo cáo kiểm toán theo đúng các hướng dẫn và mẫu báo cáo của chuẩn mực kiểm toán, thay vì theo kiểu tự do. Các chuẩn mực kiểm toán liên quan gồm chuẩn mực số 700, 705, 706, 710, 720, 800, 805, 810, 1000, 930, 920.

Tùy thuộc phạm vi và tính chất của từng loại kiểm toán mà mẫu ý kiến toán sẽ có những đặc điểm riêng khác nhau (xem chi tiết trong các chuẩn mực trên)

Đối với kiểm toán báo cáo tài chính (loại kiểm toán phổ biến), thì báo cáo kiểm toán sẽ có 4 loại như sau:

1.Ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.

2.Ý kiến kiểm toán chấp nhận từng phần: Là ý kiến này được đưa ra trong trường hợp dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính; hoặc kiểm toán viên bị giới hạn công tác kiểm toán, không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính.

3. Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược): Ý kiến trái ngược được đưa ra trong trường hợp khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Loại báo cáo này được phát hành khi phạm vi kiểm toán bị giới hạn nghiêm trọng hoặc các tài liệu quá mập mờ, không rõ ràng khiến KTV không thể tiến hành kiểm toán theo chương trình đã định.

4. Ý kiến từ chối (hoặc không thể đưa ra ý kiến): Ý kiến từ chối được đưa ra trong trường hợp khi kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính. 

Để biết chi tiết hơn về mẫu báo cáo kiểm toán của 4 loại trên, hãy xem chuẩn mực kiểm toán số 700 tại đây

Để đánh giá xem liệu kiểm toán viên có đang trình bày ý kiến kiểm toán phù hợp với doanh nghiệp của mình hay không, hãy tham khảo những hướng dẫn chi tiết trong các chuẩn mực liên quan như trình bày ở trên.

Ý kiến kiểm toán là ý kiến chấp nhận toàn phần (unqualified opinion) thì có nghĩa là báo cáo tài chính chắn chắn sẽ không có sai sót trọng yếu?

(Mục 05 của Chuẩn mực VSA 200)

“Để kiểm toán viên có cơ sở để đưa ra ý kiến kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu kiểm toán viên phải đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không. Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phù hợp khi báo cáo tài chính còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định (xem hướng dẫn tại đoạn  A28 – A52 Chuẩn mực này)”

Căn cứ vào giải trình như trên có thể hiểu là trong mọi trường hợp không thể khẳng định là báo cáo tài chính chắc chắn sẽ không thể có sai sót trọng yếu được, tuy nhiên, nếu có ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần thì khả năng có sai sót trọng yếu sẽ ở mức rất thấp.

Sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính được hiểu như thế nào?

(Mục 06 của Chuẩn mực VSA 200)

“Khái niệm về tính trọng yếu được kiểm toán viên sử dụng trong cả giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và trong việc đánh giá ảnh hưởng của những sai sót đã phát hiện trong quá trình kiểm toán, kể cả những sai sót chưa được điều chỉnh (nếu có) trong báo cáo tài chính (xem các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 và số 450). Nhìn chung, các sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, sai sót đó có thể gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.

Sự xét đoán về mức trọng yếu cần được xem xét trong hoàn cảnh cụ thể, trên cơ sở kiểm toán viên hiểu rõ về những thông tin tài chính mà người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm, quy mô hoặc bản chất của sai sót, hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó. Trách nhiệm của kiểm toán viên là đưa ra ý kiến đối với tổng thể báo cáo tài chính, do đó, kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện các sai sót không mang tính trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính.”

Nếu báo cáo tài chính đã được kiểm toán nhưng sau đó được phát hiện là có những sai sót trọng yếu do gian lận thì những ai sẽ chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào?

Khi những gian lận trên báo cáo tài chính được phát hiện thì những bên sau đây sẽ chịu trách nhiệm trước các bên liên quan trực tiếp như sau:

  • Ban quản trị và Ban giám đốc của đơn vị được kiểm toán chịu trách nhiệm trước các cổ đông/ nhà đầu tư vì đã để xẩy ra các sai sót trọng yếu do gian lận. Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán (điều này thường được thể hiện rõ trong điều lệ của doanh nghiệp). Điều quan trọng là Ban Giám đốc, với sự giám sát của Ban quản trị, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian lận nhằm làm giảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận và phát hiện gian lận qua đó thuyết phục các cá nhân không thực hiện hành vi gian lận vì khả năng bị phát hiện và xử phạt. Trách nhiệm này bao gồm việc cam kết tạo ra văn hóa trung thực và hành vi có đạo đức mà có thể được tăng cường bằng hoạt động giám sát tích cực của Ban quản trị. Trong khi thực hiện trách nhiệm giám sát của mình, Ban quản trị phải xem xét khả năng xảy ra hành vi khống chế kiểm soát hoặc hành động gây ảnh hưởng không thích hợp đến quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính, ví dụ việc Ban Giám đốc cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh để các nhà phân tích hiểu không đúng về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán.
  • Các bộ phận trong doanh nghiệp (có chức năng liên quan đến quản trị rủi ro) có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng trước Ban quản trị và Ban giám đốc nếu không thực hiện đầy đủ và phù hợp các chức năng công việc liên quan. Các bộ phận liên quan có thể bao gồm: ủy ban quản trị rủi ro, giám đốc các bộ phận liên quan, kiểm toán nội bộ, giám đốc tài chính, kế toán trưởng, nhân viên phụ trách thực hiện các kiểm soát
  • Công ty kiểm toán và kiểm toán viên phụ trách có thể phải chịu trách nhiệm trước những người sử dụng báo cáo tài chính nếu không tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán liên quan đến rủi ro do gian lận (Chuẩn mực 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận).

Theo đó, người sử dụng báo cáo tài chính có thể kiện công ty kiểm toán và kiểm toán viên phụ trách ra tòa để đòi bồi thường các thiệt hại của mình nếu cho rằng công ty kiểm toán và kiểm toán viên phụ trách đã không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, hoặc có hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Nếu việc kiểm tra hồ sơ kiểm toán cho thấy bằng chứng về việc này thì công ty kiểm toán và kiểm toán viên sẽ phải chịu bồi thường và chế tài phạt theo quyết định của tòa án.

Tại sao kiểm toán độc lập có thể không phát hiện được các gian lận?

  • Khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không. Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là kiểm toán viên không phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (xem đoạn A51 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200).
  • Như đã đề cập tại đoạn A51 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, ảnh hưởng của các hạn chế vốn có là đặc biệt nghiêm trọng đối với các sai sót do gian lận. Rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận cao hơn rủi ro có sai sót trọng yếu do nhầm lẫn. Đó là do gian lận có thể được thực hiện thông qua các mánh khóe tinh vi và được tổ chức chặt chẽ nhằm che giấu hành vi gian lận, như giả mạo hồ sơ, cố ý không ghi chép các giao dịch, hoặc cố ý cung cấp các giải trình sai cho kiểm toán viên. Hành động che giấu còn có thể khó phát hiện hơn khi có sự thông đồng thực hiện hành vi gian lận. Sự thông đồng có thể làm cho kiểm toán viên tin rằng bằng chứng kiểm toán là thuyết phục trong khi thực tế đó là những bằng chứng giả. Khả năng phát hiện gian lận của kiểm toán viên phụ thuộc vào các yếu tố như kỹ năng của thủ phạm, tần suất và mức độ của hành vi thao túng, mức độ thông đồng, giá trị của khoản tiền bị thao túng, cấp bậc của những cá nhân có hành vi gian lận. Mặc dù kiểm toán viên có thể xác định được các cơ hội thực hiện hành vi gian lận, nhưng rất khó để có thể xác định được các sai sót trong các lĩnh vực mà họ xem xét, như các ước tính kế toán, là do gian lận hay nhầm lẫn.
  • Ngoài ra, rủi ro về việc kiểm toán viên không phát hiện hết sai sót trọng yếu xuất phát từ hành vi gian lận của Ban Giám đốc là cao hơn so với việc phát hiện sai sót do gian lận của nhân viên, bởi vì Ban Giám đốc thường xuyên có điều kiện trực tiếp hoặc gián tiếp thao túng việc ghi sổ kế toán, trình bày các thông tin tài chính gian lận hoặc khống chế các thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm ngăn ngừa các hành vi gian lận tương tự của các nhân viên khác.

Chuẩn mực kiểm toán độc lập có những yêu cầu và hướng dẫn như thế nào đối với rủi ro gian lận?

Chuẩn mực 240 (Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận) hướng dẫn những nội dung như sau:

  • Thái độ hoài nghi nghề nghiệp:

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, kiểm toán viên phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán, phải nhận thức được khả năng có thể tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận, cho dù trong các cuộc kiểm toán trước, kiểm toán viên đã biết về tính trung thực và chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán

  • Thảo luận trong nhóm kiểm toán

Đoạn 10 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 yêu cầu nhóm kiểm toán phải tổ chức thảo luận giữa các thành viên trong nhóm và thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán phải xác định các vấn đề cần trao đổi với các thành viên của nhóm kiểm toán không tham gia cuộc thảo luận nhóm. Cuộc thảo luận này phải đặc biệt tập trung vào nội dung và cách thức mà báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán dễ có sai sót trọng yếu do gian lận, kể cả việc gian lận đó có thể xảy ra như thế nào. Cuộc thảo luận này phải được thực hiện kể cả khi nhóm kiểm toán tin tưởng vào tính trung thực và chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán

  • Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan

Khi thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan nhằm tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, bao gồm kiểm soát nội bộ của đơn vị, theo yêu cầu của đoạn 05 – 24 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục tại các đoạn 17 – 24 của Chuẩn mực này để thu thập thông tin nhằm xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.

  • Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận

Theo đoạn 25 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, kiểm toán viên phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ báo cáo tài chính và ở cấp độ cơ sở dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh.

  • Biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá

Theo đoạn 05 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330, kiểm toán viên phải xác định biện pháp xử lý tổng thể để xử lý các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính

  • Đánh giá bằng chứng kiểm toán

Nếu xác định được một sai sót, bất kể có trọng yếu hay không, mà kiểm toán viên có lý do để tin rằng sai sót đó xuất phát từ gian lận hoặc có thể xuất phát từ gian lận và có sự tham gia của Ban Giám đốc (đặc biệt là lãnh đạo cấp cao), thì kiểm toán viên phải xem xét lại đánh giá của mình về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và ảnh hưởng của sai sót đó tới nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán đối với rủi ro đã đánh giá. Khi xem xét lại độ tin cậy của các bằng chứng đã thu thập được trước đó, kiểm toán viên cũng phải cân nhắc xem các tình huống hoặc điều kiện có biểu hiện hành vi thông đồng liên quan đến các nhân viên, Ban Giám đốc hoặc các bên thứ ba hay không

  • Kiểm toán viên không thể tiếp tục hợp đồng kiểm toán

Do kết quả của một sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận, nếu gặp phải tình huống dẫn đến yêu cầu xem xét lại khả năng tiếp tục thực hiện công việc kiểm toán thì kiểm toán viên phải áp dụng theo các hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán.

  • Trao đổi với Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán

Nếu kiểm toán viên xác định được hành vi gian lận hoặc thu thập được thông tin cho thấy có thể có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải kịp thời trao đổi các vấn đề này với cấp quản lý thích hợp của đơn vị nhằm thông báo với những người có trách nhiệm chính trong việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận về các vấn đề liên quan đến trách nhiệm của họ

  • Trao đổi với các cơ quan quản lý và cơ quan pháp luật có liên quan

Nếu xác định được hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải xác định trách nhiệm báo cáo về hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận đó với bên thứ ba (nếu có). Mặc dù trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng có thể không cho phép kiểm toán viên thực hiện việc báo cáo đó nhưng trong một số trường hợp, trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên có thể cao hơn trách nhiệm bảo mật đó

Tại Việt Nam và trên thế giới, vai trò của kiểm toán độc lập rất quan trọng và đa dạng. Có thể kể đến một số vai trò tiêu biểu như sau:

  1. Đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy: Kiểm toán độc lập giúp đảm bảo rằng thông tin tài chính và báo cáo tài chính của các tổ chức đáng tin cậy và chính xác. Qua việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận sự tuân thủ các quy định pháp luật và tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán độc lập đảm bảo rằng thông tin được công bố là minh bạch và đáng tin cậy.
  2. Phát hiện và ngăn chặn gian lận và sai sót: Kiểm toán độc lập giúp phát hiện các sai sót, gian lận, lạm quyền và sự lãng phí trong quản lý tài chính. Bằng cách kiểm tra và xác nhận tính chính xác và hợp lý của thông tin tài chính, kiểm toán độc lập giúp ngăn chặn các hành vi gian lận và đảm bảo rằng các quy trình và quy định được tuân thủ.
  3. Đóng góp vào sự phát triển và ổn định kinh tế: Kiểm toán độc lập đóng góp vào sự phát triển và ổn định của hệ thống kinh tế và tài chính của Việt Nam. Bằng cách đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy của thông tin tài chính, kiểm toán độc lập giúp tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư, ngân hàng và các bên liên quan khác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và phát triển kinh tế.
  4. Đánh giá hiệu quả của quản lý tài chính: Kiểm toán độc lập giúp đánh giá hiệu quả của quản lý tài chính trong các tổ chức. Bằng cách kiểm tra và đánh giá các quy trình, chính sách và quy định tài chính, kiểm toán độc lập đưa ra những đánh giá và khuyến nghị để cải thiện quản lý tài chính và tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh.
  5. Bảo vệ lợi ích của các bên liên quan: Kiểm toán độc lập bảo vệ lợi ích của các bên liên quan như cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng và chính phủ. Bằng cách đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy của thông tin tài chính, kiểm toán độc lập đảm bảo rằng các bên liên quan được cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ để đưa ra quyết định phù hợp, kịp thời và bảo vệ lợi ích của họ.

Tóm lại, vai trò của kiểm toán độc lập là đảm bảo tính minh bạch, đáng tin cậy và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan, đồng thời phát hiện và ngăn chặn các sai sót, gian lận và lạm quyền trong quản lý tài chính.

Thế nào là các bên liên quan theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (kiểm toán độc lập)?

Theo đoạn 10, VSA 550 Các bên liên quan,

Bên liên quan: Là các đối tượng gồm

(i) Bên liên quan theo định nghĩa trong khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng; hoặc

(ii) Nếu khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng có rất ít hoặc không có quy định nào về bên liên quan thì bên liên quan là:

a. Một người hoặc đơn vị khác có quyền kiểm soát đối với đơn vị báo cáo hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị báo cáo, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một hoặc nhiều bên trung gian;

b. Một đơn vị khác mà đơn vị báo cáo có quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một hoặc nhiều bên trung gian; hoặc         

c. Một đơn vị khác chịu sự kiểm soát chung với đơn vị báo cáo thông qua việc có:

i. Sở hữu kiểm soát chung;

ii. Chủ sở hữu là các thành viên gia đình mật thiết; hoặc

iii. Có chung nhà quản lý chủ chốt.

Tuy nhiên, các đơn vị chịu sự quản lý chung của Nhà nước (như Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, khu vực hoặc quốc gia) không được coi là có liên quan, trừ khi các đơn vị đó tham gia vào các giao dịch quan trọng hoặc chia sẻ các nguồn lực ở một mức độ đáng kể với một đơn vị khác.

Sự khác biệt giữa bên liên quan và bên liên kết theo quy định của chuẩn mực kế toán, kiểm toán độc lập và thuế?

Tiêu chíKế toánKiểm toán độc lậpThuế (Nghị định 132/2020/NĐ/CP)
Quyền kiểm soát / nắm giữ / ảnh hưởng đáng kể.Kiểm soát, hoặc bị kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một hoặc nhiều bên trung gian.Có quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một hoặc nhiều bên trung gian.
  • Nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
  • Doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia;
  • Cùng một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu;.
  • Chỉ định thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định hoặc số thành viên chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát;
  • Chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia.
Kiểm soát của một cá nhân.Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp biểu quyết.Sở hữu kiểm soát chung.Vốn góp của một cá nhân vào hai doanh nghiệp hoặc trực tiếp tham gia điều hành hai doanh nghiệp.
Nhà quản lý.Có chung nhà quản lý chủ chốt.Có chung nhà quản lý chủ chốt.Có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba.
Mối quan hệ giữa các cá nhân điều hành.Bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em ruột.Các thành viên gia đình mật thiết.Vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.
Mối quan hệ trụ sở.Không quy định.Không quy định.Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Bảo lãnh hoặc cho vay.Không quy định.Không quy định.
  • Khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;
  • Ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ thân thiết.
Nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp.Không quy định.Không quy định.Ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.

Trong phạm vi các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, kiểm toán năm đầu tiên được hiểu: Là cuộc kiểm toán trong đó:

  1. Báo cáo tài chính kỳ trước đó không được kiểm toán; hoặc
  2. Báo cáo tài chính kỳ trước đó đã được kiểm toán bởi kiểm toán viên tiền nhiệm;

Mặc dù chỉ phải đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính kỳ hiện tại nhưng kiểm toán viên cần phải thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để đảm bảo số dư đầu kỳ đã được trình bày trung thực và hợp lý, bởi vì:

  • Một số khoản mục trên báo cáo tài chính năm hiện hành có giá trị ghi nhận phụ thuộc vào số dư của một số khoản mục khác tại thời điểm cuối kỳ trước (ví dụ: Giá vốn hàng bán của năm nay sẽ phụ thuộc vào giá trị hàng tồn kho được xác định tại cuối kỳ trước);
  • Số dư trên bảng cân đối kế toán năm hiện hành có thể là số liệu lũy kế từ những giao dịch đã phát sinh từ các năm trước (ví dụ: tài sản cố định được mua từ các năm trước).

Do đó, nếu công ty lần đầu sử dụng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính hoặc thay đổi công ty kiểm toán thì cần lưu ý các điểm sau để đảm bảo quá trình kiểm toán diễn ra được suôn sẻ và hiệu quả:

  • Gửi thư cho kiểm toán viên tiền nhiệm (nếu thuộc trường hợp ii nói trên) để thông báo về việc bổ nhiệm kiểm toán viên mới.
  • Theo hướng dẫn của chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 510 “Kiểm toán năm đầu tiên – số dư đầu kỳ”, kiểm toán viên được quyền đề nghị được soát xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm để thu thập bằng chứng liên quan đến số liệu đầu kỳ. Tuy nhiên, việc này có thể không đem lại hiệu quả hoặc không khả thi vì có thể do phí soát xét vượt quá lợi ích đem lại từ việc soát xét hoặc hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm cho thấy bằng chứng kiểm toán thu thập được liên quan đến số dư đầu kỳ là không đầy đủ và thích hợp, hoặc có thể vì lý do khác.
  • Kiểm toán viên có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các chứng từ và tài liệu có liên quan đến giao dịch đã phát sinh và các số dư hình thành từ các năm trước để thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp đối với số đầu kỳ. Ví dụ:
    • Báo cáo tài chính đã được kiểm toán có đính kèm báo cáo kiểm toán, danh sách bút toán điều chỉnh, thư quản lý (nếu có);
    • Thư xác nhận với các ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, bên cho vay;
    • Chứng từ liên quan đến mua sắm/xây dựng tài sản cố định;
    • Chứng từ liên quan đến mua/bán hàng hóa;
    • Biên bản kiểm kê hàng tồn kho, tài sản cố định, tiền mặt;
    • Các hợp đồng vay;
    • Các hợp đồng thuê;

Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên sẽ đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán. Việc thu thập bằng chứng kiểm toán cho sự hiện hữu của hàng tồn kho được quy định tại Chuẩn mực kiểm toán số 501: Bằng chứng kiểm toán với khoản mục và sự kiện đặc biệt.

Trường hợp hàng tồn kho được xác định là trọng yếu đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và tình trạng của hàng tồn kho bằng cách:

1. Tham gia chứng kiến kiểm kê hiện vật hàng tồn kho:

  • Kiểm toán viên thực hiện chọn mẫu kiểm kê hàng tồn kho, ví dụ bằng cách lựa chọn một số mặt hàng từ phiếu kiểm kê của đơn vị để đối chiếu với hàng thực tế tồn trong kho và lựa chọn một số mặt hàng thực tế tồn trong kho để đối chiếu với phiếu kiểm kê của đơn vị, cung cấp bằng chứng kiểm toán về tính đầy đủ và chính xác của các phiếu kiểm kê đó;
  • Đánh giá/ Quan sát việc tuân thủ các hướng dẫn của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán và việc thực hiện các thủ tục ghi chép, kiểm soát kết quả kiểm kê hiện vật hàng tồn kho;
  • Thu thập bằng chứng kiểm toán về độ tin cậy của các thủ tục kiểm kê theo quy định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán.

2. Thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với các sổ kế toán ghi chép cuối cùng về hàng tồn kho của đơn vị để xác định liệu các sổ kế toán này có phản ánh chính xác kết quả kiểm kê hàng tồn kho thực tế hay không.

Một số trường hợp cần lưu ý:

  • Trường hợp việc kiểm kê hiện vật hàng tồn kho được tiến hành tại ngày khác với ngày kết thúc kỳ kế toán: ngoài các thủ tục quy định như trên, kiểm toán viên còn phải thực hiện các thủ tục kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán về việc liệu những biến động hàng tồn kho giữa ngày thực hiện kiểm kê và ngày kết thúc kỳ kế toán có được ghi chép đúng đắn hay không.
  • Trường hợp kiểm toán viên không thể tham gia kiểm kê hiện vật hàng tồn kho:
    • Kiểm toán viên phải thực hiện kiểm kê hoặc quan sát việc kiểm kê hiện vật vào một ngày khác, và thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với các giao dịch xảy ra giữa thời điểm kiểm kê lại và thời điểm đơn vị thực hiện kiểm kê;
    • Hoặc, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán thay thế nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và tình trạng của hàng tồn kho. Nếu không thể thực hiện các thủ tục kiểm toán thay thế như đã nêu trên, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần theo quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705.
  • Trường hợp hàng tồn kho được bên thứ ba kiểm soát và bảo quản được xác định là trọng yếu đối với báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và tình trạng của hàng tồn kho đó, bằng cách thực hiện một hoặc cả hai thủ tục sau:
    • Yêu cầu bên thứ ba xác nhận về số lượng và tình trạng của hàng tồn kho được bên thứ ba nắm giữ;
    • Tiến hành kiểm tra hoặc thực hiện các thủ tục kiểm toán thích hợp khác tuỳ theo từng trường hợp: Ví dụ như: Tham gia chứng kiến kiểm kê Hàng tồn kho của bên thứ ba, Thu thập báo cáo về tính đầy đủ và thích hợp của Kiểm soát nội bộ của bên thứ ba để đảm bảo rằng hàng tồn kho được kiểm kê đúng đắn và được bảo vệ thích đáng; Kiểm tra tài liệu liên quan,…

Khi lựa chọn/ thay đổi công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập, doanh nghiệp cần lưu ý những gì?

Ngoài những vấn đề phổ biến khi đánh giá bên cung cấp dịch vụ (như yêu cầu về thời hạn, kinh nghiệm, nguồn lực, chất lượng dịch vụ nói chung, các giá trị gia tăng…), doanh nghiệp cần lưu ý xem xét bổ sung các vấn đề đặc thù của dịch vụ kiểm toán như sau:

  1. Tính độc lập của công ty kiểm toán: Doanh nghiệp cần kiểm tra để bảo đảm: (1) công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập cho doanh nghiệp không được đồng thời là bên cung cấp các dịch vụ khác có thể làm ảnh hưởng đến tính độc lập (ví dụ: dịch vụ kiểm toán nội bộ, dịch vụ tư vấn xây dựng quy trình kinh doanh, tư vấn rủi ro,…..); (2) công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập không được là bên liên quan/ liên kết với doanh nghiệp;
    Mặc dù về lý thuyết thì vẫn có thể áp dụng các biện pháp làm giảm nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập, nhưng doanh nghiệp vẫn nên cố gắng tránh rơi vào những trường hợp trên để bảo đảm tối đa cho chất lượng và uy tín của ý kiến kiểm toán được ban hành trong tương lai.
  2. Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập (được cấp hàng năm bởi bộ tài chính): Doanh nghiệp nên yêu cầu công ty kiểm toán cung cấp tài liệu này để bảo đảm dịch vụ kiểm toán là có hiệu lực. Nếu không có giấy chứng nhận này thì công ty kiểm toán sẽ không được phép cung cấp dịch vụ trong năm hiện hành.
    Trong trường hợp kiểm toán các công ty đại chúng, ngân hàng, bảo hiểm thì sẽ cần phải có giấy chứng nhận hàng năm riêng từ Bộ tài chính.
  3. Thương hiệu của công ty kiểm toán: Doanh nghiệp sẽ cần cân nhắc nhiều vấn đề này nếu doanh nghiệp muốn tạo dựng được lòng tin từ các đối tác kinh doanh. Thương hiệu của công ty kiểm toán được xếp hạng ở mức cao thì sẽ làm cho đối tác cảm thấy yên tâm hơn về các số liệu và thông tin trình bày trên báo cáo, cũng như tin tưởng hơn vào sự chân thành của doanh nghiệp.
  4. Ảnh hưởng của số dư đầu kỳ: Nội dung này thường hay bị quên khi đàm phán hợp đồng. Doanh nghiệp cần trao đổi trước để hiểu rõ cách xử lý của công ty kiểm toán về điểm này để lường trước những vấn đề phát sinh thêm. Thực tế cho thấy vấn đề này ảnh hưởng rất nhiều đến ý kiến kiểm toán, tiến độ báo cáo, và chi phí phát sinh thêm.

(Nghị Định 41/2018/NĐ-CP)

Mục 5. HÀNH VI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN

Điều 53. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề thực hiện kiểm toán

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với đơn vị thuê doanh nghiệp kiểm toán trong các trường hợp doanh nghiệp kiểm toán không được thực hiện kiểm toán theo quy định pháp luật.

2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với đơn vị thuê doanh nghiệp kiểm toán không đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật.

3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với đơn vị được kiểm toán không thực hiện kiểm toán bắt buộc đối với báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo tài chính tổng hợp và các công việc kiểm toán khác theo quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập và pháp luật khác có liên quan.

Điều 54. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về giao kết hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính năm

1. Phạt cảnh cáo đối với doanh nghiệp, tổ chức là đối tượng bắt buộc phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm thực hiện giao kết hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính không đầy đủ nội dung theo quy định.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp, tổ chức là đối tượng bắt buộc phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm thực hiện giao kết hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính chậm hơn so với thời hạn quy định.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp, tổ chức là đối tượng bắt buộc phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm thực hiện giao kết hợp đồng kiểm toán sau khi thực hiện kiểm toán.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với doanh nghiệp, tổ chức là đối tượng bắt buộc phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm không thực hiện giao kết hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính khi thực hiện kiểm toán.

Điều 55. Xử phạt hành vi vi phạm quy định liên quan đến cuộc kiểm toán

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với đơn vị được kiểm toán không giải trình hoặc giải trình không đầy đủ, đúng thời gian quy định về các nội dung ngoại trừ trong báo cáo kiểm toán theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc kiểm toán theo yêu cầu của kiểm toán viên hành nghề hoặc doanh nghiệp kiểm toán;

b) Mua chuộc, hối lộ, thông đồng với thành viên tham gia cuộc kiểm toán và doanh nghiệp kiểm toán để làm sai lệch tài liệu kế toán, báo cáo tài chính, hồ sơ kiểm toán và báo cáo kiểm toán;

c) Đe dọa, trả thù, ép buộc thành viên tham gia cuộc kiểm toán nhằm làm sai lệch kết quả kiểm toán;

d) Che giấu hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán;

đ) Cản trở công việc và có hành vi hạn chế phạm vi cuộc kiểm toán.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đối với hanh vi vi phạm quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều này.

(Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

Điều 38. Quyền của đơn vị được kiểm toán

1. Lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và kiểm toán viên hành nghề có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật để giao kết hợp đồng kiểm toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam cung cấp thông tin trong hồ sơ đăng ký hành nghề kiểm toán và thông tin về kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thực hiện kiểm toán.

3. Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm toán.

4. Đề nghị thay thế thành viên tham gia cuộc kiểm toán khi có căn cứ cho rằng thành viên đó vi phạm nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập trong quá trình thực hiện kiểm toán.

5. Thảo luận, giải trình bằng văn bản về những vấn đề được nêu trong dự thảo báo cáo kiểm toán nếu thấy chưa phù hợp.

6. Khiếu nại về hành vi của thành viên tham gia cuộc kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật.

7. Yêu cầu bồi thường trong trường hợp doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam gây thiệt hại.

8. Quyền khác theo quy định của pháp luật.

Điều 39. Nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán

1. Cung cấp đầy đủ, chính xác, trung thực, kịp thời, khách quan thông tin, tài liệu cần thiết theo yêu cầu của kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin, tài liệu đã cung cấp.

2. Thực hiện yêu cầu của kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam về việc thu thập bằng chứng kiểm toán theo yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán và điều chỉnh các sai sót để báo cáo kiểm toán không có ý kiến ngoại trừ đối với các nội dung không được ngoại trừ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 48 của Luật này. Trường hợp không điều chỉnh sai sót theo ý kiến của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, đơn vị được kiểm toán phải giải trình bằng văn bản theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đại diện chủ sở hữu đối với đơn vị được kiểm toán.

3. Phối hợp, tạo điều kiện cho kiểm toán viên hành nghề thực hiện kiểm toán.

4. Không được có hành vi hạn chế phạm vi các vấn đề cần kiểm toán.

5. Xem xét đề nghị của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam về tồn tại, sai sót trong báo cáo tài chính và trong việc tuân thủ pháp luật để có biện pháp khắc phục kịp thời.

6. Thông báo kịp thời, đầy đủ các vi phạm pháp luật và vi phạm hợp đồng kiểm toán trong hoạt động kiểm toán của kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Thanh toán phí dịch vụ kiểm toán theo thỏa thuận trong hợp đồng.

8. Trường hợp ký hợp đồng kiểm toán với một doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam từ ba năm liên tục trở lên thì phải yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thay đổi kiểm toán viên hành nghề ký báo cáo kiểm toán.

9. Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Doanh nghiệp có thể trích dẫn những số liệu của báo cáo tài chính đã được kiểm toán để trình bày ở các tài liệu khác cho mục đích công bố rộng rãi?

Báo cáo kiểm toán luôn cần được đi kèm với báo cáo của doanh nghiệp như là một bộ tài liệu hoàn chỉnh để bảo đảm người sử dụng báo cáo có được sự hiểu biết toàn diện về ý kiến kiểm toán và số liệu được kiểm toán. Nếu muốn trích dẫn một phần số liệu của báo cáo được kiểm toán trong các tài liệu khác cho mục đích công bố rộng rãi (Ví dụ: Bản cáo bạch) thì doanh nghiệp cần trao đổi và có được sự chấp thuận chính thức bởi công ty kiểm toán để bảo đảm việc trình bày thông tin là đầy đủ và phù hợp, không làm cho người sử dụng báo cáo có những hiểu sai so với bản chất thực tế.

Để có thể thu thập được đầy đủ và xác đáng các bằng chứng cho ý kiến của mình, kiểm toán viên có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các tài liệu liên quan để xem xét và đánh giá.

Trong trường hợp này, để tránh những khác biệt và tranh chấp không đáng có giữa hai bên, doanh nghiệp cần trao đổi với kiểm toán viên để hiểu hai bên hiểu rõ được yêu cầu cụ thể của nhau liên quan đến tài liệu đó, cùng nhau xác định xem giới hạn tối đa mà hai bên có thể hợp tác được với nhau.

Tùy thuộc vào bản chất và tính chất quan trọng của tài liệu, các kiểm toán viên có hiểu biết chuyên môn sâu sắc sẽ có thể đề xuất các giải pháp tối ưu nhất theo hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán, vừa giúp bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp trong khi vẫn có thể bảo đảm tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực. Vì vậy, việc trao đổi và giải thích với kiểm toán viên một cách rõ ràng và thuyết phục là rất cần thiết.

Công ty tôi năm nay thay đổi công ty kiểm toán, và kiểm toán viên năm nay lại yêu cầu tôi cung cấp những số liệu và tài liệu kế toán của những năm trước mà đã được công ty khác kiểm toán rồi, tại sao lại như vậy?

Điều này là vì:

  1. một số giao dịch của năm hiện hành có giá trị ghi nhận trong sổ sách kế toán phụ thuộc vào số liệu cuối kỳ của kỳ trước đó (ví dụ: Giá vốn hàng bán của năm nay sẽ phụ thuộc vào giá trị hàng tồn kho được xác định tại cuối kỳ trước).
  2. số dư trên bảng cân đối kế toán năm hiện hành có thể là số liệu lũy kế từ những giao dịch đã phát sinh từ các năm trước (Ví dụ: tài sản cố định được mua từ các năm trước)

Theo hướng dẫn của chuẩn mực (VSA 510 – Kiểm toán năm đầu tiên – số dư đầu kỳ), kiểm toán viên có thể soát xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên năm trước để có được bằng chứng phù hợp và đáng tin cậy cho mình. Tuy nhiên, nếu việc này không đem lại hiệu quả (vì nhiều lý do) thì kiểm toán viên có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại các số liệu và chứng từ của những giao dịch đã phát sinh từ các năm trước để thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp. Mỗi công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý kiến của mình, nên họ không bị yêu cầu phải sử dụng kết quả kiểm toán của công ty kiểm toán khác.

Việc xử lý theo cách nào sẽ tùy thuộc vào đánh giá rủi ro của kiểm toán viên như sau:

  • Nếu kiểm toán viên đánh giá rủi ro liên quan là ở mức cao thì việc gửi thư xác nhận cần phải do chính công ty kiểm toán thực hiện để bảo đảm bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao nhất. Tuy nhiên, cách thức này sẽ có thể làm tiêu hao nhiều công sức, thời gian, và chi phí hơn cho công ty kiểm toán và doanh nghiệp vì thủ tục xử lý sẽ phức tạp hơn để bảo đảm nhận được đủ thư phản hồi.
  • Nếu kiểm toán viên đánh giá rủi ro liên quan không phải ở mức cao thì kiểm toán viên có thể yêu cầu doanh nghiệp gửi đi. Tuy nhiên, kiểm toán viên phải có các thủ tục kiểm soát đối với toàn bộ quy trình thực hiện để bảo đảm toàn bộ thư được gửi đi theo đúng hướng dẫn của kiểm toán viên, nội dung thư xác nhận là phù hợp, thư trả lời gửi về phải gửi trực tiếp cho kiểm toán viên. Cách thức này sẽ giảm bớt được công sức, thời gian, và chi phí cho công ty kiểm toán và doanh nghiệp nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ thủ tục này có thể bị can thiệp trái phép bởi những người trong doanh nghiệp để nhằm che dấu hành vi gian lận (nếu có).

Tôi thấy có công ty kiểm toán tập trung kiểm tra chứng từ chi tiết rất nhiều, nhưng cũng có công ty lại kiểm tra vào chứng từ rất ít và chủ yếu chỉ tìm hiểu về quy trình kế toán, thủ tục kiểm soát, môi trường kiểm soát nội bộ, văn hóa công ty…. vậy cách làm nào mới đúng?

Cả hai cách làm đều có thể được áp dụng, tùy thuộc vào lựa chọn chiến lược kiểm toán của kiểm toán viên phụ trách. Chuẩn mực kiểm toán cho phép kiểm toán viên lựa chọn việc tin tưởng hoặc không tin tưởng vào hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp sau khi cân nhắc tính khả thi và nguồn lực sẵn có.

Nếu lựa chọn tin tưởng vào hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục nhằm tìm hiểu, đánh giá và kiểm tra các thủ tục kiểm soát của doanh nghiệp. Nếu kết quả kiểm tra thành công thì mức độ rủi ro kiểm toán sẽ thấp xuống (vì rủi ro kiểm soát được xác định ở mức thấp hơn), do đó thủ tục kiểm tra chi tiết vào chứng từ sẽ ít hơn tương ứng. Tuy nhiên, nếu kết quả kiểm tra không thành công thì kiểm toán viên sẽ lãng phí công sức và thời gian và phải quay lại sử dụng chiến lược tập trung vào kiểm tra chứng từ chi tiết.

Ngược lại, nếu không lựa chọn tin tưởng vào hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp thì kiểm toán viên sẽ phải thực hiện nhiều thủ tục kiểm tra chi tiết vào chứng từ để giảm rủi ro kiểm toán xuống mức thấp chấp nhận được.

Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp có quá nhiều giao dịch thì chiến lược kiểm tra chi tiết vào chứng từ sẽ không khả thi vì giới hạn bởi nguồn lực và thời gian, theo đó chỉ có duy nhất chiến lược lựa chọn tin tưởng vào hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp thì mới có thể thu thập được bằng chứng đầy đủ và phù hợp cho ý kiến kiểm toán.

Tùy thuộc vào tình huống cụ thể của doanh nghiệp và nguồn lực sẵn có, kiểm toán viên phụ trách sẽ lựa chọn chiến lược kiểm toán tối ưu, vừa giúp đạt mục tiêu kiểm toán, vừa hiệu quả về công sức, thời gian, và chi phí.

Tại sao công ty tôi sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập hàng năm nhưng khi cơ quan thuế vào kiểm tra vẫn phát hiện nhiều sai sót về số liệu thuế của các năm trước, do đó phải đóng thêm nhiều tiền thuế của các năm trước và phát sinh thêm các khoản tiền phạt?

Các khoản mục thuế cũng được đánh giá rủi ro và bị kiểm tra bởi thủ tục kiểm toán tương tự như các khoản mục khác trên báo cáo tài chính để bảo đảm các nghĩa vụ thuế không có những sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Ngoài ra, tính tuân thủ các quy định về thuế cũng được kiểm toán xem xét để bảo đảm không có những rủi ro tiềm tàng về các khoản phạt thuế trọng yếu.

Tuy nhiên, mức độ trọng yếu áp dụng đối với từng khoản mục trên báo cáo tài chính (bao gồm cả các khoản mục thuế) phụ thuộc vào mức độ trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính được xác định dựa trên nhiều yếu tố khác nhau theo hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán. Do đó, mức độ trọng yếu này sẽ rất khác so với phạm vi công việc là soát xét riêng các khoản mục thuế theo yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Ngoài ra, cách hiểu về các quy định thuế có thể khác nhau giữa các cán bộ thuế. Vì những nguyên nhân này, việc kết luận của cán bộ thuế có những chênh lệch so với số liệu thuế được phản ánh trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán là việc bình thường.

Tuy nhiên, nếu mức chênh lệch đủ lớn để có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp thì đó sẽ là sai sót trọng yếu mà kiểm toán viên đã không phát hiện được. Những sai sót như vậy, khi được xác định, sẽ phải được điều chỉnh hồi tố tương ứng đối với báo cáo tài chính đã được kiểm toán.

Ấn phẩm kiểm toán khác

Quy định liên quan

Bài viết chuyên môn

Câu hỏi thường gặp

Lên đầu trang

Đăng ký tư vấn